Kết quả bước đầu và các yếu tố liên quan đến điều trị ung thư vú thể dị sản giai đoạn chưa di căn xa tại Bệnh viện K

  • Lê Thị Yến Bệnh viện K; Trường Đại học Y Hà Nội
  • Lê Hồng Thái Bệnh viện K

Main Article Content

Keywords

Ung thư vú, thể dị sản, giai đoạn chưa di căn xa, kết quả điều trị, yếu tố tiên lượng, thời gian sống thêm không bệnh (DFS).

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu và các yếu tố liên quan đến điều trị bệnh nhân ung thư vú thể dị sản (MBC) giai đoạn chưa di căn xa. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả (hồi cứu kết hợp tiến cứu) được thực hiện trên bệnh nhân MBC giai đoạn I - III tại bệnh viện K từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 02 năm 2024. Kết quả: 213 bệnh nhân MBC có tuổi trung bình là 52, trong đó nhóm bệnh nhân ≥ 40 tuổi chiếm đa số (85,2%). Ngoài ra, 133 bệnh nhân (62,5%) được chẩn đoán ở giai đoạn II, theo sau là 51 bệnh nhân (23,9%) ở giai đoạn I, và 29 bệnh nhân (13,6%) ở giai đoạn III. Về đặc điểm hoá mô miễn dịch (HMMD), đa số các bệnh nhân có đặc điểm của ung thư vú bộ ba âm tính chiếm 76,5%, hầu hết bệnh nhân có chỉ số Ki67 ≥20% với 209 bệnh nhân chiếm 98,1%. Đa số bệnh nhân được phẫu thuật trước với 164 bệnh nhân (76,9%), có 49 bệnh nhân được điều trị hóa chất bổ trợ trước chiếm 23,1%. Trung vị DFS của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 48,7 tháng. Phân tích đơn biến chỉ ra kích thước khối u, giai đoạn tại thời điểm chẩn đoán và có điều trị hoá chất bổ trợ trước hay không là ba yếu tố tiên lượng của MBC. Khi phân tích đa biến, việc điều trị hóa chất bổ trợ trước hay phẫu thuật trước là yếu tố tiên tượng có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Kết luận: MBC là thể bệnh tiến triển nhanh, thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, kích thước u thường phát triển lớn tại thời điểm chẩn đoán. Ung thư vú thể dị sản thường là thể bộ ba âm tính, dẫn tới tiên lượng xấu. Các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho ung thư vú ít hiệu quả trên nhóm bệnh nhân này.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Pezzi CM, Patel-Parekh L, Cole K, Franko J, Klimberg VS, Bland K (2007) Characteristics and treatment of metaplastic breast cancer: Analysis of 892 cases from the National Cancer Data Base. Ann Surg Oncol 14(1): 166-173, doi:10,1245/s10434-006-9124-7
2. Yigit S, Pehlivan FS, Evcim G, Etit D (2012) Clinicopathologic features of the mixed epithelial and mesenchymal type metaplastic breast carcinoma with myoepithelial differentiation in a subset of six cases. Pathol Res Pract 208(3): 147-150, doi:10,1016/j.prp.2011,12,014
3. El Zein D, Hughes M, Kumar S et al (2017) Metaplastic Carcinoma of the Breast Is More Aggressive Than Triple-negative Breast Cancer: A Study From a Single Institution and Review of Literature. Clin Breast Cancer 17(5): 382-391. doi:10,1016/j.clbc.2017,04,009
4. Shi H, Yu L, Mai J, Zhang P, Fang K (2021) Nomograms predicting overall survival and cancer-specific survival in metaplastic breast cancer patients. J BUON Off J Balk Union Oncol 26(4):1386-1397.
5. Mao J, Hu J, Zhang Y et al (2021) Single Hormone Receptor-Positive Metaplastic Breast Cancer: Similar Outcome as Triple-Negative Subtype. Front Endocrinol 12: 628939, doi:10,3389/fendo.2021,628939
6, Ovcaricek T, Frkovic SG, Matos E, Mozina B, Borstnar S (2010) Triple negative breast cancer – prognostic factors and survival. Radiol Oncol 45(1): 46-52, doi:10,2478/v10019-010-0054-4
7. Phan KT, Trịnh LH và Phùng TH (2023) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị UTV thể dị sản tại Bệnh viện K. Tạp chí Y học Việt Nam. 532, 1 (tháng 11 2023). DOI: https://doi.org/10,51298/vmj.v532i1,7295,
8. Aysola K, Desai A, Welch C et al (2013) Triple Negative Breast Cancer - An Overview. Hered Genet Curr Res (2): 001, doi:10,4172/2161-1041,S2-001
9. Poor response to neoadjuvant chemotherapy in metaplastic breast carcinoma npj Breast Cancer. Accessed July 28, 2024, https://www.nature.com/articles/s41523-021-00302-z
10. Al-Hilli Z, Choong G, Keeney MG et al (2019) Metaplastic breast cancer has a poor response to neoadjuvant systemic therapy. Breast Cancer Res Treat 176(3): 709-716, doi:10,1007/s10549-019-05264-2