Viêm kẽ Candida đối xứng giả vảy nến thể đảo ngược: một bẫy chẩn đoán trong thực hành lâm sàng

  • Nguyễn Thị Quỳnh Trang Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Hoàng Quốc Tuấn Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Lưu Ngọc Vi Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Lê Minh Châu Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Thúy Quỳnh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Hải Yến Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thanh Hà Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Main Article Content

Keywords

Viêm kẽ, Candida albicans, vảy nến thể đảo ngược, nuôi cấy nấm, mô bệnh học.

Tóm tắt

Viêm kẽ do Candida là bệnh da thường gặp, chủ yếu khu trú tại các vùng kẽ. Tuy nhiên trong một số trường hợp không điển hình, tổn thương  có thể phân bố đối xứng, ít vảy, và biểu hiện lâm sàng tương tự vảy nến thể đảo ngược hoặc viêm da tiếp xúc. Bên cạnh đó, xét nghiệm soi tươi tìm nấm có thể cho kết quả âm tính giả, đặc biệt trong nhiễm Candida, gây khó khăn trong chẩn đoán và dẫn đến điều trị không phù hợp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp viêm kẽ do Candida albicans với tổn thương dạng mảng đỏ đối xứng tại các vùng kẽ lớn không đáp ứng với điều trị corticoid. Xét nghiệm soi tươi vảy da tìm nấm nhiều vị trí đều âm tính trong khi kết quả nuôi cấy nấm phát hiện Candida albicans, mô bệnh học nhuộm PAS phát hiện giả sợi và bào tử nấm trong lớp sừng, khẳng định chẩn đoán viêm kẽ do Candida albicans. Bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn với điều trị kháng nấm. Trường hợp này nhấn mạnh viêm kẽ do Candida có thể biểu hiện đối xứng và dễ nhầm với vảy nến thể đảo ngược, đặc biệt khi xét nghiệm soi tươi âm tính.  Do đó, trong các trường hợp lâm sàng còn nghi ngờ, việc phối hợp nuôi cấy nấm và mô bệnh học là cần thiết nhằm chẩn đoán chính xác, tránh lạm dụng corticoid và tối ưu hiệu quả điều trị.  

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Kalra MG, Higgins KE, Kinney BS (2014) Intertrigo and secondary skin infections. Am Fam Physician 89(7): 569-573.
2. Hay RJ, Ashbee HR (2016) Fungal Infections. In: Rook’s Textbook of Dermatology. John Wiley & Sons, Ltd; 2016:1-110. doi:10.1002/9781118441213.rtd0033
3. Langley RGB, Krueger GG, Griffiths CEM (2005) Psoriasis: Epidemiology, clinical features, and quality of life. Ann Rheum Dis 64 Suppl 2 (Suppl 2):ii18-23; discussion ii24-25. doi:10.1136/ard.2004.033217
4. Elewski BE (1996) Diagnostic techniques for confirming onychomycosis. J Am Acad Dermatol 35(3 Pt 2): 6-9. doi:10.1016/s0190-9622(96)90062-6
5. Micali G, Verzì AE, Giuffrida G, Panebianco E, Musumeci ML, Lacarrubba F (2019) Inverse Psoriasis: From Diagnosis to Current Treatment Options. Clin Cosmet Investig Dermatol 12: 953-959. doi:10.2147/CCID.S189000
6. Geerlings SE, Hoepelman AI (1999) Immune dysfunction in patients with diabetes mellitus (DM). FEMS Immunol Med Microbiol 26(3-4): 259-265. doi:10.1111/j.1574-695X.1999.tb01397.x
7. Pappas PG, Kauffman CA, Andes DR et al (2016) Clinical Practice Guideline for the Management of Candidiasis: 2016 Update by the Infectious Diseases Society of America. Clin Infect Dis. 2016;62(4):e1-50. doi:10.1093/cid/civ933.