Đặc điểm sức căng dọc thất trái trên siêu âm tim và mối liên hệ với tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định khám ngoại trú tại Bệnh viện Hữu nghị
Main Article Content
Keywords
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm sức căng dọc thất trái (GLS) và mối liên hệ giữa sức căng dọc từng vùng thất trái với vị trí tổn thương mạch vành (ĐMV) trên chụp cắt lớp vi tính (CLVT) hoặc chụp động mạch vành qua da (DSA) ở bệnh nhân (BN) đau thắt ngực ổn định. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 BN được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định, tại phòng khám ngoại trú khoa tim mạch – Bệnh viện Hữu Nghị trong thời gian từ tháng 9-12/2024. BN được siêu âm tim 2D đánh dấu mô (2D-STE) để đánh giá GLS toàn bộ và từng vùng, đồng thời được chụp CLVT hoặc DSA để xác định mức độ và vị trí hẹp ĐMV. Phân tích mối tương quan và khả năng chẩn đoán (độ nhạy, độ đặc hiệu, đường cong ROC) của GLS từng vùng với tổn thương ĐMV tương ứng. Kết quả: Tuổi trung bình 76,08 ± 8,08, tỷ lệ nam:nữ là 4,6:1, trong đó có 44% BN không có tổn thương tắc nghẽn (nghi ngờ ANOCA/INOCA). GLS chung trung bình là -16,00 ± 3,36, trong khi EF trung bình là 58,44 ± 9,18%. Không có sự khác biệt về GLS giữa các nhóm tổn thương 1, 2 hay 3 nhánh ĐMV. Khả năng chẩn đoán của sức căng dọc từng vùng thất trái thay đổi đáng kể theo vùng: Vùng mỏm (LAD chi phối) có độ đặc hiệu cao lên tới 93,75% tại ngưỡng ≥ -16. Vùng thành bên (LCX chi phối) có độ đặc hiệu cao (89,29%) tại ngưỡng ≥ -12, nhưng độ nhạy thấp (35%). Các vùng khác cho thấy khả năng chẩn đoán khiêm tốn (AUC 0,54 - 0,62). Kết luận: GLS có thể là chỉ số nhạy hơn EF để phát hiện rối loạn chức năng thất trái sớm ở nhóm BN cao tuổi đau thắt ngực ổn định. GLS vùng có giá trị khu trú tổn thương thiếu máu cục bộ (đặc biệt là vùng mỏm với tổn thương LAD) nhưng độ chính xác tổng thể còn khiêm tốn, nên được xem là công cụ bổ trợ trong thực hành lâm sàng.
Article Details
Các tài liệu tham khảo
2. Davis EF, Daniela R (2024) Global Longitudinal Strain as Predictor of Inducible Ischemia in No Obstructive Coronary Artery Disease in the CIAO-ISCHEMIA Study. J Am Soc Echocardiogr 37(1): 89–99.
3. Đặng Đình Đôn và cộng sự (2021) Nghiên cứu chỉ số sức căng dọc thất trái bằng siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn tính. Viện Y học Phòng không - Không quân, Bệnh viện Quân y 103.
4. Gaibazzi N, Lorenzoni V et al (2022) Association between Resting Global Longitudinal Strain and Clinical Outcome of Patients Undergoing Stress Echocardiography. J Am Soc Echocardiogr 35(10): 1018-1027.6.
5. Gopinath K, Sajan Ahmad Z, Viswanathan S (2019) Utility of longitudinal strain imaging by speckle tracking in predicting obstructive coronary artery disease in patients without regional wall motion abnormality on 2D echocardiography. J Evid Based Med Healthc 6(52): 3259–3264.
6. Harold JG, Bass TA, Bashore TM et al (2013) ACCF/AHA/SCAI 2013 update of the clinical competence statement on coronary artery interventional procedures… Circulation: 128(4): 436-472.
7. Nguyễn Duy Toàn và cộng sự (2023) Nghiên cứu chỉ số sức căng dọc thất trái bằng siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở bệnh nhân suy tim mạn tính. Tạp chí y học, tập 520 số 1B. DOI: https://doi.org/ 10. 51298/ vmj.v520i1B.3880
8. Nyberg J et al (2023) Echocardiographic Reference Ranges of Global Longitudinal Strain for All Cardiac Chambers Using Guideline-Directed Dedicated Views. JACC Cardiovasc Imaging 16(12): 1516–1531.
9. Radwan H, Hussein E (2017) Value of global longitudinal strain by two-dimensional speckle tracking echocardiography in predicting coronary artery disease severity. The Egyptian Heart Journal 69: 95-101.
10. Sonawane RG, Ponde CK (2025) Global Longitudinal Strain Value and its Association with Coronary Artery Disease Severity. JK Science: Journal of Medical Education & Research 27(1).
ISSN: 1859 - 2872