Thực trạng sử dụng vancomycin tại Khoa Hồi sức tích cực - chống độc, Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc

  • Lê Bá Hải Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Trần Thị Hằng Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc
  • Phùng Chí Kiên Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Vũ Thu Hà Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Nguyễn Quyết Thắng Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc
  • Nguyễn Thị Ngọc Liên Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc
  • Nguyễn Thành Hải Trường Đại học Dược Hà Nội

Main Article Content

Keywords

Vancomycin, hồi sức tích cực, chế độ liều, MRSA, độc tính trên thận.

Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích thực trạng sử dụng vancomycin trên bệnh nhân điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực – chống độc (HSTC-CĐ), Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu dựa trên dữ liệu thu được từ hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa HSTC-CĐ, Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc trong thời gian 01/10/2023-30/9/2024, được chỉ định sử dụng vancomycin đường truyền tĩnh mạch ít nhất 24 giờ. Kết quả: Trung vị độ tuổi của 145 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 65 tuổi, nam giới chiếm 64,83%. Vancomycin được chỉ định theo kinh nghiệm chiếm 92,41%. Tỷ lệ nuôi cấy vi sinh là 97,93%, trong đó 64,79% cấy vi sinh dương tính. Trong 179 mẫu bệnh phẩm có kết quả dương tính, có 10 mẫu phân lập ra Staphylococcus aureus, trong đó phát hiện MRSA ở 6 mẫu (tương ứng khoảng 60%). Tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng liều nạp là 88,28%, liều nạp trung bình theo cân nặng là 27,01mg/kg. Ở bệnh nhân không lọc máu, liều duy trì được sử dụng phổ biến nhất là 1000mg/12h (36,97%), 1500mg/12h (31,09%) và 1000mg/24h (23,53%). Tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện độc tính trên thận là 17,24%. Kết luận: Vancomycin được sử dụng chủ yếu theo kinh nghiệm và mặc dù chế độ liều được tối ưu, tuy nhiên vẫn ghi nhận 17,24% gặp độc tính trên thận. Cần xây dựng hướng dẫn sử dụng và theo dõi nồng độ vancomycin để nâng cao hiệu quả và giảm độc tính.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Vandecasteele SJ, De Vriese AS, Tacconelli E (2013) The pharmacokinetics and pharmacodynamics of vancomycin in clinical practice: Evidence and uncertainties. The Journal of antimicrobial chemotherapy 68(4): 743-748.
2. Bộ Y tế (2023) Báo cáo giám sát kháng kháng sinh tại Việt Nam 2020.
3. Roberts JA, Lipman J (2009) Pharmacokinetic issues for antibiotics in the critically ill patient. Critical care medicine 37(3): 840-851
4. Hoste EA, De Corte W (2007) Epidemiology of AKI in the ICU. Acta clinica Belgica 62 (Suppl 2): 314-317.
5. Steinkraus G, White R, Friedrich L (2007) Vancomycin MIC creep in non-vancomycin-intermediate Staphylococcus aureus (VISA), vancomycin-susceptible clinical methicillin-resistant S. aureus (MRSA) blood isolates from 2001-05. The Journal of antimicrobial chemotherapy 60(4): 788-794.
6. Khwaja A (2012) KDIGO clinical practice guidelines for acute kidney injury. Nephron Clinical practice 120(4): 179-184.
7. Lê Thị Minh Hằng (2022) Phân tích đặc điểm sử dụng vancomycin trên bệnh nhân nặng điều trị hồi sức tích cực tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức. Tạp chí Y học Việt Nam 2022, tr. 62-66.
8. Nguyễn Đức Phúc (2024) Nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh vancomycin tại Bệnh viện Hữu Nghị Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam, tr. 59-63.
9. Rybak MJ, Le J, Lodise TP et al (2020) Therapeutic monitoring of vancomycin for serious methicillin-resistant Staphylococcus aureus infections: A revised consensus guideline and review by the American Society of Health-System Pharmacists, the Infectious Diseases Society of America, the Pediatric Infectious Diseases Society, and the Society of Infectious Diseases Pharmacists. American journal of health-system pharmacy: AJHP: official journal of the American Society of Health-System Pharmacists 77(11): 835-864.
10. Mạc Thị Mai (2021) Thực trạng sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tr. 49-58.
11. Hoste EA, Bagshaw SM, Bellomo R et al (2015) Epidemiology of acute kidney injury in critically ill patients: The multinational AKI-EPI study. Intensive care medicine 41(8): 1411-123.