Thực trạng rối loạn nuốt và một số yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

  • Dương Thùy Dung Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Bùi Thị Hồng Thúy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Dương Thị Kiều Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Đinh Thị Hải Hà Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Huyền Trang Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Phương Chi Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Main Article Content

Keywords

Rối loạn nuốt, người cao tuổi, hít sặc.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ rối loạn nuốt và xác định các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện, từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2024, gồm 200 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên nhập viện tại Khoa A1A và Khoa A1C. Khó nuốt được sàng lọc bằng Thử nghiệm nuốt nước 30ml. Thu thập thông tin về nhân khẩu học và tiền sử bệnh. Phân tích thống kê bao gồm thống kê mô tả và hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan đến chứng khó nuốt (p<0,05); Kết quả: Tỷ lệ mắc chứng khó nuốt là 47% (94/200), trong đó rối loạn nuốt nhẹ là phổ biến nhất chiếm 91,49%. Phân tích hồi quy logistic cho thấy độ tuổi ≥ 75 (OR: 5,84, 95% CI: 3,03 - 11,32) và tiền sử tăng huyết áp (OR: 2,06, 95% CI: 1,09 - 3,91) có liên quan đáng kể đến tăng nguy cơ rối loạn nuốt. Giới tính, bệnh tiểu đường và đột quỵ trước đó không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa. Kết luận: Rối loạn nuốt rất phổ biến ở những bệnh nhân cao tuổi nhập viện tại Bệnh viện TWQĐ 108. Tuổi cao và tăng huyết áp là những yếu tố nguy cơ của rối rối loạn nuốt.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Sebastian Ocrospoma, Marcos I Restrepo (2024) Severe aspiration pneumonia in the elderly. Journal of Intensive Medicine 4(3): 307-317, ISSN 2667-100X. https://doi.org/10.1016/j.jointm.2023.12.009
2. Thanh-Nhan Doan, Wen-Chao Ho, Liang-Hui Wang et al (2020) Prevalence and methods for assessment of oropharyngeal dysphasia in older adults: A systemic review and meta-analysis. Journal of Clinical Medicine 11(9): 2605. doi.org/10.3390/jcm11092605
3. Foley NC, Martin RE, Salter KL et al (2009) A review of the relationship between dysphagia and malnutrition following stroke. J Rehabil Med 41(9): 707-713.
4. Nishiwaki K, Tsuji T, Liu M, Hase K, and Tanaka N, Fujiwara T (2005) Identification of a simple screening tool for dysphagia in patients with stroke using factor analysis of multiple dysphagia variables. J Rehabil Med 37(4): 247-251.
5. Lê Mai Trà Mi, Hoàng Khánh Linh, Hoàng Hải My và cộng sự (2024) Thực trạng rối loạn nuốt và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023-2024. Tạp chí Nghiên cứu Y học 181(08), tr. 203-213.
6. Horiguchi S, Suzuki Y (2011) Screening tests in evaluating swallowing function. Japan Medical Association Journal 54(1): 31-34.
7. Smith J et al (2021) Prevalence of dysphagia in elderly patients: A screening study. Journal of Geriatric Medicine 45(2): 105-112.
8. Lee M et al (2019) Screening for swallowing disorders in patients with neurological diseases: A systematic review. Journal of Neurological Disorders 34(1): 58-65.
9. Đinh Thị Hoa, Mạc Doanh Thịnh (2021) Khảo sát tình trạng rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ giai đoạn cấp tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Tạp chí Y học Việt Nam, 502(1), tr. 230-234.
10. Mai Thanh Nghiệm (2021) Nghiên cứu tình hình rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ não cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 47, tr. 35-39
11. Ortega O, Martín A, Clavé P (2020) Dysphagia and the elderly: Epidemiology and complications in the older patient. International Journal of Gerontology 14(3):103-108.
12. Smith CH, Logemann JA, Colangelo L, Rademaker, AW, Pauloski BR (2019) The impact of hypertension on swallow function in older adults. Journal of Clinical Hypertension 21(4): 344-350.
13. Nguyễn Văn Đan, Trương Quang Trung (2024) Thực trạng rối loạn nuốt và một số yếu tố liên quan trên người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam 534(1): 164-168.