Mối liên quan giữa nồng độ sPD-L1 huyết tương với các đặc điểm mô bệnh học và chỉ số cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng

  • Mai Thị Vân Anh Trường Đại học Y Hà Nội
  • Lê Thị Thanh Xuân Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Tuấn Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Thanh Hải Trường Đại học Y Hà Nội
  • Đặng Thị Ngọc Dung Trường Đại học Y Hà Nội
  • Nghiêm Xuân Hoàn Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Main Article Content

Keywords

Ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng, ung thư đại trực tràng, sPD-L1

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả mối liên quan giữa nồng độ sPD-L1 huyết tương với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có nhóm đối chứng trên 50 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng và 30 bệnh nhân polyp u tuyến đại trực tràng loạn sản biểu mô độ thấp, được chẩn đoán tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng nghiên cứu là 65,64 (± 10,68) chiếm nhiều nhất là nhóm 50 - 69 tuổi (56%), tỷ lệ mắc ở nam cao hơn nữ, hay gặp ở đại tràng phải và chủ yếu có mức độ biệt hoá vừa. Nồng độ sPD-L1 trung bình của nhóm bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng là 89,59 ± 29,21pg/mL, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân polyp u tuyến đại trực tràng loạn sản biểu mô độ thấp. Không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ sPD-L1 trung bình giữa nam và nữ, các nhóm tuổi, các giai đoạn và mức độ biệt hoá. Không có mối tương quan giữa nồng độ sPD-L1 với nồng độ CEA, số lượng bạch cầu và tuổi của bệnh nhân. Kết luận: Nồng độ sPD-L1 huyết tương tăng có ý nghĩa ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng so với nhóm polyp u loạn sản biểu mô độ thấp với AUC 0,771 và độ đặc hiệu 90%, cho thấy tiềm năng của sPD-L1 như một dấu ấn sinh học bổ trợ chẩn đoán và tiên lượng.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Bray F, Laversanne M, Sung H et al (2024) Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin 74(3):229-263. doi:10.3322/caac.21834.
2. Phạm Minh Tuệ, Nguyễn Thị Huyền, Bùi Thị Loan (2025) Nhận xét đặc điểm mô bệnh học ung thư biểu mô đại trực tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam 548(1). doi:10.51298/vmj.v548i1.13467.
3. Le DT, Uram JN, Wang H et al (2015) PD-1 Blockade in Tumors with Mismatch-Repair Deficiency. New England Journal of Medicine 372(26). doi:10.1056/nejmoa1500596.
4. Niu M, Liu Y, Yi M, Jiao D, Wu K (2022) Biological Characteristics and Clinical Significance of Soluble PD-1/PD-L1 and Exosomal PD-L1 in Cancer. Front Immunol 13. doi:10.3389/fimmu.2022.827921.
5. Lee D, Cho M, Kim E, Seo Y, Cha JH (2024) PD-L1: From cancer immunotherapy to therapeutic implications in multiple disorders. Molecular Therapy 32(12): 4235-4255. doi:10.1016/j.ymthe.2024.09.026.
6. Zhu J, Zhang J, Gu C (2025) Prognostic and clinicopathological value of soluble programmed cell death ligand-1 (sPD-L1) in patients with colorectal cancer: A meta-analysis. World J Surg Oncol 23(1): 283. doi:10.1186/s12957-025-03949-1.
7. Yi M, Niu M, Xu L, Luo S, Wu K (2021) Regulation of PD-L1 expression in the tumor microenvironment. J Hematol Oncol 14(1):10. doi:10.1186/s13045-020-01027-5.
8. Akamine T, Takada K, Toyokawa G et al (2018) Association of preoperative serum CRP with PD-L1 expression in 508 patients with non-small cell lung cancer: A comprehensive analysis of systemic inflammatory markers. Surg Oncol 27(1): 88-94. doi:10.1016/j.suronc.2018.01.002.