Đánh giá kết quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt ở người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2024
Main Article Content
Keywords
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt và xác định một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt ở người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 93 người bệnh đột quỵ não được chẩn đoán rối loạn nuốt theo thang điểm MASA 1 (Mann Assessment of Swallowing Ability) điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Đối tượng nghiên cứu được can thiệp phục hồi chức năng rối loạn nuốt theo quy trình kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng, được theo dõi và đánh giá tại thời điểm trước điều trị và ngày thứ 4 sau can thiệp. Kết quả: Sau can thiệp phục hồi chức năng rối loạn nuốt, có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về tổng điểm MASA và hầu hết các mục lượng giá theo thang điểm MASA (p<0,05). Tỷ lệ người bệnh phải sử dụng sonde dạ dày giảm từ 22,6% xuống 9,8%. Các yếu tố: Nhóm tuổi, giới tính, thời điểm can thiệp sau đột quỵ, mức độ rối loạn nuốt trước can thiệp ảnh hưởng mức độ cải thiện chức năng nuốt theo MASA sau 4 ngày can thiệp phục hồi chức năng có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết luận: Phục hồi chức năng rối loạn nuốt là phương pháp can thiệp điều trị rối loạn nuốt hiệu quả. Cần dựa vào nhiều yếu tố để tiên lượng kết quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt, giúp người bệnh có các phương án điều trị rối loạn nuốt tiếp theo can thiệp phục hồi chức năng.
Article Details
Các tài liệu tham khảo
2. Banda KJ, Chu H, Kang XL et al (2022) Prevalence of dysphagia and risk of pneumonia and mortality in acute stroke patients: a meta-analysis. BMC Geriatr 22(1): 420. doi:10.1186/s12877-022-02960-5.
3. Đinh Thị Hoa, Mạc Doanh Thịnh (2021) Khảo sát tình trạng rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ giai đoạn cấp tại khoa Thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. Tạp chí Học Việt Nam, 502(1).
4. Bộ Y tế (2019) Hướng dẫn Quy trình Kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng. Quyết định số 2520/QĐ-BYT ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
5. Crary MA, Mann GDC, Groher ME (2005) Initial psychometric assessment of a functional oral intake scale for dysphagia in stroke patients. Arch Phys Med Rehabil 86(8): 1516-1520. doi:10.1016/j.apmr.2004.11.049.
6. Carnaby-Mann G (2007) Update on assessment and management of dysphagia post stroke. Northeast Fla Med 58(2): 31-34.
7. Nguyễn Thị Khoa (2022) Kết quả phục hồi chức năng sớm rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ não. Hội nghị Khoa học Toàn quốc chuyên ngành đột quỵ và các bệnh thần kinh liên quan lần thứ IX- 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 519 – Tháng 10 - Số Đặc Biệt.
8. Kamal LH, Abdou RM, Hamouda NH, Said SMA (2021) The effect of early intervention of swallowing therapy on recovery from oropharyngeal dysphagia in stroke patients: a cross sectional study. Senses Sci (Educ Sci Tech) 8 (3): 1367-1382.
9. Bùi Thị Hồng Thuý, Nguyễn Trọng Lưu, Dương Thị Kiều (2019) Đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn nuốt ở bệnh nhân nhồi máu não bằng phương pháp phục hồi chức năng kết hợp liệu pháp Biofeedback. Tạp chí Học Việt Nam 482(1), tr. 255-258.
10. Hess F, Foerch C, Keil F, Seiler A, Lapa S (2021) Association of Lesion Pattern and Dysphagia in Acute Intracerebral Hemorrhage. Stroke 52(9): 2921-2929. doi:10.1161/STROKEAHA.120.032615.
11. Nguyễn Thị Vân, Phạm Văn Minh (20210 Đánh giá kết quả điều trị rối loạn nuốt ở người bệnh nhồi máu não bằng các bài tập nuốt kết hợp chất làm đặc thức ăn. Tạp chí Học Việt Nam 507(1), tr. 240-244.
12. Matsuo K, Palmer JB (2008) Anatomy and physiology of feeding and swallowing: Normal and abnormal. Phys Med Rehabil Clin N Am 19(4): 691-707, vii. doi:10.1016/j.pmr.2008.06.001.
13. González-Fernández M, Ottenstein L, Atanelov L, Christian AB (2013) Dysphagia after Stroke: an Overview. Curr Phys Med Rehabil Rep 1(3): 187-196. doi:10.1007/s40141-013-0017-y.
ISSN: 1859 - 2872