Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy ở bệnh nhân sau 6 tháng ghép gan phải từ người cho sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Main Article Content
Keywords
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy ở bệnh nhân sau 6 tháng ghép gan phải từ người cho sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 48 bệnh nhân được ghép gan phải từ người cho sống. Các bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính 6 tháng sau ghép để đánh giá tình trạng nhu mô gan và các biến chứng. Kết quả: Tính chất nhu mô gan: 83,33% bệnh nhân có nhu mô gan đồng nhất; có 16,67% có vùng giảm tỷ trọng. Kích thước động mạch trước, tại vị trí, sau miệng nối có đường kính trung bình giảm dần, lần lượt là 3,94 ± 1,25mm; 3,26 ± 1,13mm; 2,65 ± 1,04mm. Hình ảnh đường mật: 13/48 (27,08%) trường hợp có biểu hiện giãn đường mật trong gan. Hình ảnh tràn dịch màng phổi: 4,17% có ở một bên, 2,08% có ở cả hai bên. Kết luận: Cắt lớp vi tính đa dãy là công cụ chẩn đoán hình ảnh hữu ích trong theo dõi bất thường muộn sau ghép gan.
Article Details
Các tài liệu tham khảo
2. Lê Hữu Tý, Nguyễn Thị Thu Thảo, Lê Thị Nhiễu, Đoàn Văn Hoan, Lê Duy Dũng, Phạm Tuấn Anh, Vũ Đăng Lưu (2023) Hình ảnh biến chứng mạch máu trên cắt lớp vi tính đa dãy ở bệnh nhân nhận gan từ người cho sống. Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam. Tập 53, tr. 23-31.
3. Mai Hồng Bàng, Lê Văn Thành, Vũ Văn Quang, Đào Tấn Lực, Lê Văn Lợi, Hồ Văn Linh,Vũ Ngọc Tuấn, Nguyễn Mạnh Dũng, Lê Trung Hiếu (2021) Kết quả bước đầu ghép gan từ người hiến sống sử dụng mảnh ghép gan phải tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Journal of 108-Clinical Medicine and Phamarcy. Tập 16 - Số đặc biệt 4/2021, tr. 1-8.
4. Brüggenwirth IM, van Reeven M, Vasiliauskaitė I et al (2021) Donor diabetes mellitus is a risk factor for diminished outcome after liver transplantation: a nationwide retrospective cohort study. Transplant International 34(1): 110-117.
5. Lâm Lệ Quyên, Nguyễn Việt Khái, Thái Huỳnh Ngọc Trân (2023) Nghiên cứu giải phẫu động mạch gan và mối tương quan với một số yếu tố bằng chụp cắt lớp vi tính tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ (69), tr. 142-148.
6. Vũ Văn Quang, Lê Trung Hiếu, Lê Văn Thành (2023) Đánh giá các yếu tố nguy cơ biến chứng của tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống. Journal of 108-Clinical Medicine and Phamarcy. Tập 18 - Số 4/2023, tr. 90-96.
7. Vũ Văn Quang, Phạm Hoàn Mỹ, Lê Văn Thành. (2024) Phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan phải trong ghép gan từ người hiến sống: Báo cáo 27 trường hợp đầu tiên tại Việt Nam. Journal of 108-Clinical Medicine and Phamarcy. Tập 19 - Số 1/2024: 96-103.
8. Lemmers A, Pezzullo M, Hadefi A et al (2021) Biliary cast syndrome after liver transplantation: a cholangiographic evolution study. Journal of gastroenterology and hepatology 36(5): 1366-1377.
9. Vernuccio F, Mercante I, Tong X-X, Crimì F, Cillo U, Quaia E (2023) Biliary complications after liver transplantation: A computed tomography and magnetic resonance imaging pictorial review. World journal of gastroenterology 29(21): 3257.
10. Li Z, Rammohan A, Gunasekaran V et al (2024) Biliary complications after adult-to-adult living-donor liver transplantation: An international multicenter study of 3633 cases. American Journal of Transplantation 24(7): 1233-1246.
11. Feltracco P, Carollo C, Barbieri S, Pettenuzzo T, Ori C (2013) Early respiratory complications after liver transplantation. World Journal of Gastroenterology: WJG 19(48):9271.
12. Cuk N, Melamed KH, Vangala S et al (2022) Postoperative Trapped Lung After Orthotopic Liver Transplantation is a Predictor of Increased Mortality. Transplant International 35: 10387.
ISSN: 1859 - 2872