Kết quả nội soi tán sỏi điện thuỷ lực qua đường hầm kehr tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

  • Trịnh Quốc Đạt 1. Trường Đại học Y Hà Nội; 2. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
  • Trần Bảo Long 1. Trường Đại học Y Hà Nội; 2. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
  • Đặng Kim Khuê Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
  • Bùi Anh Hào Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
  • Nguyễn Đức Anh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Main Article Content

Keywords

Sỏi đường mật sót, đường hầm Kehr, tán sỏi điện thủy lực, nội soi ống mềm.

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sỏi đường mật là bệnh lý phổ biến và phức tạp tại Việt Nam với tỷ lệ sót sỏi sau mổ lần đầu rất cao. Sự ra đời của nội soi tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr mở ra hướng đi ít xâm lấn và hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị của phương pháp này tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 40 bệnh nhân sỏi đường mật sót sau phẫu thuật, còn dẫn lưu Kehr và được chỉ định nội soi tán sỏi điện thủy lực từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2025. Thời gian tối thiểu từ lúc mổ đến khi tán sỏi là 3 tuần. Các chỉ số đánh giá gồm tỷ lệ sạch sỏi, số lần và thời gian can thiệp, cùng các tai biến, biến chứng. Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 57,9 ± 15,4 tuổi, trong đó nam giới chiếm 57,5%. Triệu chứng đau bụng phổ biến nhất (35%). Thời gian trung bình từ lúc mổ đến lúc tán sỏi là 5,57 ± 2,10 tuần, với 90% bệnh nhân được can thiệp ở tuần thứ 4 - 8. Vị trí sỏi chủ yếu ở trong gan (57,5%) hoặc kết hợp trong và ngoài gan (15%). 100% bệnh nhân có đường hầm Kehr hình thành vững chắc. Phần lớn bệnh nhân chỉ cần tán sỏi 1 lần (90%) với số lần tán trung bình là 1,15 ± 0,2 lần. Tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn đạt 92,5%. Không ghi nhận tai biến trong thủ thuật; biến chứng sau mổ gặp 1 trường hợp áp-xe gan (2,5%) đáp ứng tốt với điều trị nội khoa. Thời gian nằm viện sau thủ thuật trung bình là 3,03 ± 1,68 ngày. Kết luận: Nội soi tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr là phương pháp an toàn, ít xâm lấn và đạt hiệu quả sạch sỏi cao đối với bệnh nhân sót sỏi đường mật.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Lê Nguyên Khôi, Võ Ngọc Phương, Lê Minh Chí, Nguyễn Lê Viên. Đặc điểm của sỏi trong gan tái phát. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh. 15(4).
2. Trần Bảo Long, Đỗ Kim Sơn (2004) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và kết quả điều trị các trường hợp sỏi mật mổ lại. 491.
3. Nguyễn Đình Hối, Bệnh sỏi đường mật ở Việt Nam: Những vấn đề đang đặt ra. Tạp chí Ngoại khoa.1-14.
4. Lê Quan Anh Tuấn (2009) Lấy sỏi mật qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 7(4): 170 - 176.
5. Choi B lhn, Han JK, Han MC (1992) Percutaneous removal of retained intrahepatic stones utilizing combination of techniques with emphasis on a preshaped angulated catheter: Review of 170 patients. Interventional radiology. 2.
6. Phạm Như Hiệp, Nguyễn Thanh Nguyện, Phạm Văn Đởm (2005) Lấy sỏi đường mật qua đường hầm ống Kehr. Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sỏi mật, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
7. Perez RM, Oleaga AJ, Freiman BD, Removal of a Distal Common Bile Duct Stone Through Percutaneous Transhepatic Catheterization. JAMA Surgery. 114(1):107-109. doi:10.1001/archsurg.1979.01370250109024
8. Ou Y, Wang H, Ou J et al (2019) Complication analysis with percutaneous postoperative choledochoscopy in 826 patients: A single-center study. J Laparoendosc Adv Surg Tech A 29(8): 995-999.
9. Buxbaum JL, Fehmi SMA, Sultan S et al (2019) ASGE guideline on the role of endoscopy in the evaluation and management of choledocholithiasis. Gastrointest Endosc 89(6): 1075-1105.
10. Kiriyama S, Kozaka K, Takada T, Strasberg SM et al (2018) Tokyo Guidelines 2018: diagnostic criteria and severity grading of acute cholangitis (with videos). J Hepatobiliary Pancreat Sci 25(1): 17-30.