Chiến lược xử trí các tình huống bất thường mạch máu trong phẫu thuật ghép thận: Kinh nghiệm từ 705 ca ghép thận tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

  • Nguyễn Việt Hải Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Kiều Đức Vinh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Bá Tuấn Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Dương Hồng Quân Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Chử Lê Thanh Hùng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Trần Thị Bích Hạnh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Main Article Content

Keywords

Ghép thận, bất thường mạch máu, nhiều động mạch thận, tạo hình mạch.

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm các tình huống bất thường mạch máu, bao gồm các biến thể giải phẫu và các bất thường phát sinh trong quá trình phẫu thuật ghép thận, đồng thời phân tích các chiến lược xử trí được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 705 ca ghép thận được thực hiện tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Các biến số nghiên cứu bao gồm các tình huống bất thường mạch máu của người hiến và người nhận (bao gồm các biến thể giải phẫu và các bất thường phát sinh trong quá trình phẫu thuật), kỹ thuật xử trí mạch máu và kết quả phẫu thuật. Kết quả: Tỷ lệ bất thường động mạch thận là 21,3% (150/705), chủ yếu là 2 động mạch (19,9%). Bất thường tĩnh mạch chiếm 7,2% (50/705), chủ yếu là tĩnh mạch ngắn. Xử trí động mạch gồm nối riêng rẽ (49,3%) và tạo hình (50,7%), trong đó kỹ thuật tạo hình kiểu nòng súng chiếm ưu thế. Tĩnh mạch được xử trí bằng kéo dài bằng tĩnh mạch sinh dục (46%) hoặc tĩnh mạch hiển (24%). Bất thường mạch máu người nhận gặp 1,9% và đều được xử trí thành công. Kết luận: Bất thường mạch máu là tình trạng thường gặp nhưng có thể xử trí hiệu quả nếu cá thể hóa chiến lược. Các kỹ thuật tái tạo mạch cho phép đảm bảo tưới máu mảnh ghép, không làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện ghép. Bất thường mạch máu không còn là chống chỉ định trong ghép thận hiện đại.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Wolfe RA, Ashby VB, Milford EL et al (1999) Comparison of mortality in all patients on dialysis, patients on dialysis awaiting transplantation, and recipients of a first cadaveric transplant. N Engl J Med 341(23): 1725-1730.
2. Ibrahim HN, Foley R, Tan L et al (2009) Long-term consequences of kidney donation. N Engl J Med 360(5): 459-469.
3. Ghazanfar A, Tavakoli A, Zaki MR et al (2010) The outcomes of living donor renal transplants with multiple renal arteries. Transplant Proc 42(5): 1654-1656.
4. Paramesh AS, Zhang R, Florman S et al (2009) Laparoscopic donor nephrectomy with multiple renal arteries: impact on outcomes. Transplantation 87(4):471-475.
5. Bộ Y tế (2024) Báo cáo tổng kết hoạt động ghép tạng tại Việt Nam giai đoạn 2020-2024. Hà Nội, Bộ Y tế.
6. Aydin C, Otçu S, Kiliç M et al (2004) Outcome of kidney transplants with multiple renal arteries. BMC Surg 4: 4.
7. Đào Thị Thùy Trang, Lê Văn Phước (2021) Vai trò của chụp cắt lớp vi tính trong đánh giá mạch máu thận của người cho sống trước phẫu thuật ghép thận. Điện quang Y học hạt nhân Việt Nam, 43: 47-49.
8. Doan HQ, Nguyen TM, Nguyen NQ et al (2022) Angioplasty and angiorrhaphy efficiency in renal transplantation scenarios with multiple arteries and veins. Asian J Surg 45(11): 2185-2190.
9. Carvalho J, Nunes P, Antunes H et al (2017) Multiple renal arteries in kidney transplantation: is it a problem nowadays? Acta Urol Port 34(2): 19-23.