Phân tích thực trạng kê đơn thuốc chống đông trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Tim Hà Nội

  • Nguyễn Hữu Duy Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Hoàng Nguyễn Kim Thoa Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Vũ Quỳnh Nga Bệnh viện Tim Hà Nội
  • Nguyễn Thị Liên Hương Trường Đại học Dược Hà Nội

Main Article Content

Keywords

Thuốc chống đông, ngoại trú, VKA, DOAC

Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích thực trạng kê đơn thuốc chống đông trên bệnh nhân nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả được thực hiện trên đối tượng là bệnh nhân ngoại trú được kê đơn thuốc chống đông tại cơ sở 1 - Bệnh viện Tim Hà Nội, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 tháng 12/2022. Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng dựa theo số lượt bệnh nhân khám hàng tháng. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án ngoại trú. Kết quả: Tổng cộng 385 bệnh nhân được lựa chọn vào trong nghiên cứu. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 62,0 ± 12 tuổi. Đa số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc đối kháng vitamin K (VKA), chiếm 70,2%. Hai chỉ định phổ biến nhất của liệu pháp chống đông là rung nhĩ và van tim cơ học, chiếm hơn 95% tổng số bệnh nhân. Trong số các bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông đường uống trực tiếp (DOAC), có 72,7% được kê đơn với liều phù hợp. Các vấn đề liên liên quan đến thuốc chống đông được ghi nhận bao gồm: không điều chỉnh liều theo chức năng thận và sử dụng liều thấp hơn khuyến cáo. Tỷ lệ đơn kê VKA phù hợp trong nghiên cứu là 82,0%. Các biến cố được ghi nhận bao gồm: chảy máu nhẹ (12,7%), chảy máu cần can thiệp hoặc nhập viện (7%), và huyết khối (2,1%). Kết luận: Việc sử dụng thuốc chống đông ở bệnh nhân ngoại trú cần được giám sát chặt chẽ và điều chỉnh liều cá thể hóa nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị và hạn chế biến cố bất lợi.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. ISMP, ISMP List of High-Alert Medications in Acute Care Settings. 2018.
2. Anticoagulation F (2019) Core elements of anticoagulation stewardship programs administrative oversight Gap Analysis: Hospitals and skilled nursing facilities.
3. International Society on Thrombosis and Haemostasis, The ISTH bleeding classification.
4. Van Gelder IC et al (2024) 2024 ESC Guidelines for the management of atrial fibrillation developed in collaboration with the European Association for Cardio-Thoracic Surgery (EACTS). Eur Heart J 45(36): 3314-3414.
5. Joglar JA et al (2024) 2023 ACC/AHA/ACCP/HRS Guideline for the Diagnosis and Management of Atrial Fibrillation: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines. Circulation 149(1): 1-156.
6. Levine GN et al (2022) Management of Patients at Risk for and With Left Ventricular Thrombus: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation 146(15): 205-223.
7. Al-Abcha A et al (2025) Direct oral anticoagulants versus warfarin for the treatment of left ventricular thrombus: a multicenter retrospective observational study. The American Journal of Cardiology 238: 21-24.
8. Antoniazzi S et al (2019) Appropriateness of prescription of oral anticoagulant therapy in acutely hospitalized older people with atrial fibrillation. Secondary analysis of the SIM-AF cluster randomized clinical trial. Br J Clin Pharmacol 85(9): 2134-2142.
9. Hirsh Raccah B et al (2019) Appropriateness of direct oral anticoagulant dosing and its relation to drug levels in atrial fibrillation patients. J Thromb Thrombolysis 47(4): 550-557.
10. Chiang CE, Wang KL, and Lip GY (2014) Stroke prevention in atrial fibrillation: an Asian perspective. Thromb Haemost 111(5): 789-797.
11. Nguyễn Quốc Kính, T.M.C. (2011) Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thuốc chống đông kháng Vitamin K ở bệnh nhân sau thay van tim cơ học. Tạp chí Tim mạch học.