Kết quả điều trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng phương pháp nút mạch hóa chất động mạch gan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ năm 2020-2022

  • Đào Thị Oanh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
  • Nguyễn Phúc Kiên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
  • Đặng Thị Minh Huệ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

Main Article Content

Keywords

Ung thư biểu mô tế bào gan, nút mạch hóa chất, sống thêm toàn bộ, sống thêm không bệnh

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan bằng phương pháp nút mạch hóa chất động mạch gan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ năm 2020-2022. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu những bệnh nhân chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị bằng phương pháp nút mạch hóa chất động mạch gan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2022. Kết quả: Đáp ứng sau 1 tháng điều trị 82,4% trong đó bệnh ổn định 58,8%. Nồng độ AFP giảm rõ rệt sau điều trị tại các thời điểm 1 tháng - 3 tháng - 6 tháng. Bệnh nhân tử vong chiếm 31,4% trong đó 93,8% nguyên nhân do bệnh. Thời gian sống thêm trung bình 19,9 ± 8,5 tháng (6,4 - 46,1). Thời gian sống thêm không bệnh là 6,9 tháng. Thời gian sống thêm trung bình và sống thêm không bệnh của các phân nhóm có sự khác nhau ở phân nhóm tuổi sự khác biệt. Kết luận: Phương pháp nút mạch hóa chất động mạch gan đã mang lại kết quả cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình.

Article Details

Các tài liệu tham khảo

1. Sung H, Ferlay J, Siegel RL, Laversanne M, Soerjomataram I, Jemal A, Bray F (2021) Global Cancer Statistics 2020: GLOBOCAN Estimates of Incidence and Mortality Worldwide for 36 Cancers in 185 Countries. CA Cancer J Clin 71 (3): 209-249.
2. Llovet JM, Kelley RK, Villanueva A et al (2021) Hepatocellular carcinoma. Nat Rev Dis Primers 21;7(1):6.
3. Lê Hoài Thương, Trần Ngọc Ánh và Đậu Quang Liêu (2021) Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí nghiên cứu Y học, trường Đại học Y Hà Nội 147(11), tr. 92-100.
4. Bucci L, Garuti F, Lenzi B et al (2017) The Evolutionary Scenario of Hepatocellular Carcinoma in Italy: An Update. Liver Int 37(2): 259-270.
5. Bộ Y tế (2020) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 906-935.
6. Reig M, Forner A, Rimola J et al (2022 Mar) BCLC strategy for prognosis prediction and treatment recommendation: The 2022 update. J Hepatol 76 (3): 681-693.
7. Kudo M, Kawamura Y, Hasegawa K et al (2021) Management of Hepatocellular Carcinoma in Japan: JSH Consensus Statements and Recommendations 2021 Update. Liver Cancer 10(3): 181-223.
8. Vương Thu Hà (2015) Nghiên cứu hiệu quả bước đầu điều trị ung thư biểu mô tế bào gan kích thước trên 3cm bằng phương pháp nút mạch hóa chất kết hợp đốt sóng cao tần. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Đại Học Y Hà Nội.
9. Choi J, Lee D, Shim JH et al (2020) Evaluation of transarterial chemoembolization refractoriness in patients with hepatocellular carcinoma. PLoS One 15(3):e0229696.
10. Kudo M, Ueshima K, Ikeda M (2020) Randomised, multicentre prospective trial of transarterial chemoembolisation (TACE) plus sorafenib as compared with TACE alone in patients with hepatocellular carcinoma: TACTICS trial. Gut 69(8): 1492-1501.
11. Chen L, Yu CX, Zhong BY et al (2021) Development of TACE Refractoriness Scores in Hepatocellular Carcinoma. Front Mol Biosci 28: 615133.
12. Nguyễn Thị Thu Hường (2019) Đánh giá kết quả điều trị của thuốc sonaafenib trên bệnh nhân ung thư gan nguyên phát. Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
13. Peck-Radosavljevic M, Kudo MR JL, Lee HC et al (2018) Outcomes of patients (pts) with hepatocellular carcinoma (HCC) treated with transarterial chemoembolization (TACE): Global OPTIMIS final analysis. American Society of Clinical Oncology 36(15): 4018-4018.