Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS 108 Military Central Hospital vi-VN Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy 1859-2872 Hiệu quả chăm sóc điều dưỡng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sử dụng thở máy không xâm nhập áp lực dương tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3109 <p><em>Mục tiêu:</em> Phân tích các biện pháp chăm sóc điều dưỡng nâng cao đối với bệnh nhân (BN) đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) sử dụng thở máy không xâm nhập áp lực dương liên tục (CPAP) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 30 BN BPTNMT đợt cấp có chỉ định thở máy không xâm nhập điều trị tại khoa Nội hô hấp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ thất bại, phải chuyển sang thở máy xâm nhập sau liệu pháp CPAP ở nhóm chăm sóc điều dưỡng nâng cao là 3,3% (1/30). Các biện pháp chăm sóc có tác dụng cải thiện rõ rệt về SpO<sub>2</sub>, nhịp thở, PaCO<sub>2</sub> sau 24 - 48 giờ sử dụng CPAP. Tỷ lệ chuyển ICU và gián đoạn điều trị thấp, đồng thời mức độ hài lòng của người bệnh cao hơn. <em>Kết luận:</em> Các biện pháp chăm sóc điều dưỡng nâng cao giúp tăng hiệu quả sử dụng CPAP ở BN BPTNMT đợt cấp, giảm nguy cơ suy hô hấp tiến triển và nâng cao chất lượng điều trị.</p> Nguyễn Tuệ Minh Lê Hữu Ý Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3109 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV được điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Thanh hóa https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3110 <p><em>Mục tiêu:</em> Ung thư phổi (UTP) là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và là nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu. Tuy nhiên có sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân (BN) ở các vùng địa lý khác nhau. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của BN UTP không tế bào nhỏ được chẩn đoán, điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa để làm rõ sự khác biệt so với các vùng địa lý khác. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả trên 73 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV, được điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa từ tháng 01/2023 đến tháng 3/2026. Các biến số bao gồm đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, mô bệnh học và nồng độ các chất chỉ điểm u (CEA, CYFRA 21-1). Số liệu được phân tích bằng phần mềm R. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ nam/nữ là 4,2/1; 60% bệnh nhân có tiền sử hút thuốc. Phần lớn bệnh nhân có toàn trạng tốt (PS 0-1: 82,2%). Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là ho kéo dài và đau ngực. Khối u nguyên phát thường gặp ở phổi phải (65,7%) và vị trí ngoại vi (61,6%), với kích thước &gt; 3cm chiếm đa số (75,4%). Ung thư biểu mô tuyến chiếm 71,2%. Các vị trí di căn thường gặp gồm màng phổi (39,7%), phổi đối bên (38,3%), xương (26,0%) và gan (24,6%); di căn não chiếm 16,4%. Tỷ lệ tăng CEA và CYFRA 21-1 lần lượt là 69,9% và 60,2%. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tăng CEA giữa các thể mô bệnh học (p=0,19). <em>Kết luận:</em> Nghiên cứu nhận thấy ung thư phổi hay gặp ở nam giới, hút thuốc. Triệu chứng thường gặp là ho, đau ngực, hay gặp di căn màng phổi và phổi đối bên tại thời điểm chẩn đoán với thể mô bệnh học chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến.</p> Lê Thị Yến Nguyễn Ngọc Hùng Trương Thị Thảo Hiền Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3110 Thực trạng rối loạn nuốt và một số yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3111 <p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả tỷ lệ rối loạn nuốt và xác định các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; <em>Đối tượng và</em> p<em>hương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện, từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2024, gồm 200 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên nhập viện tại Khoa A1A và Khoa A1C. Khó nuốt được sàng lọc bằng Thử nghiệm nuốt nước 30ml. Thu thập thông tin về nhân khẩu học và tiền sử bệnh. Phân tích thống kê bao gồm thống kê mô tả và hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan đến chứng khó nuốt (p&lt;0,05); <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ mắc chứng khó nuốt là 47% (94/200), trong đó rối loạn nuốt nhẹ là phổ biến nhất chiếm 91,49%. Phân tích hồi quy logistic cho thấy độ tuổi ≥ 75 (OR: 5,84, 95% CI: 3,03 - 11,32) và tiền sử tăng huyết áp (OR: 2,06, 95% CI: 1,09 - 3,91) có liên quan đáng kể đến tăng nguy cơ rối loạn nuốt. Giới tính, bệnh tiểu đường và đột quỵ trước đó không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa. <em>Kết luận:</em> Rối loạn nuốt rất phổ biến ở những bệnh nhân cao tuổi nhập viện tại Bệnh viện TWQĐ 108. Tuổi cao và tăng huyết áp là những yếu tố nguy cơ của rối rối loạn nuốt.</p> Dương Thùy Dung Bùi Thị Hồng Thúy Dương Thị Kiều Đinh Thị Hải Hà Nguyễn Thị Huyền Trang Nguyễn Thị Phương Chi Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3111 Tình trạng rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ngoại tâm thu thất không do bệnh cơ tim https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3112 <p><em>Mục tiêu:</em> Xác định tỷ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân ngoại tâm thu thất và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lo âu ở bệnh nhân ngoại tâm thu thất không do bệnh cơ tim. <em>Đối tượng và phương pháp: Nghiên</em> cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 12/2024 đến tháng 8/2025, với 163 bệnh nhân, chẩn đoán ngoại tâm thu thất qua điện tâm đồ hoặc Holter điện tâm đồ 24h, không mắc bệnh cơ tim thực tổn. Đánh giá tình trạng lo âu bằng thang điểm tự đánh giá (GAD-7) và thang điểm đánh giá bởi chuyên gia (ZUNG SAS). <em>Kết quả:</em> Tuổi trung bình 56,39 ± 11,78. Có 65% nữ, 60,1% nông dân, và 66,26% sống ở thành thị. Tần số ngoại tâm thu thất trung bình 16,09 ± 27,14%/24h. Tỷ lệ lo âu theo GAD-7: 58,9% (34,36% nhẹ, 9,82% vừa, 14,72% nặng); ZUNG SAS: 61,35% nhẹ. Chất lượng giấc ngủ: 68,1% tốt, 31,9% kém hoặc mất ngủ nặng. Hồi quy tuyến tính cho thấy ZUNG SAS liên quan với PVC% (β=0,666, p=0,002), nhưng GAD-7 không cho thấy liên quan (p=0,347). <em>Kết luận:</em> Tỷ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân ngoại tâm thu thất đánh giá bằng thang điểm GAD-7 là 58,9%, bằng thang điểm ZUNG SAS là 61,35%. Các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu bao gồm rối loạn giấc ngủ và tỷ lệ ngoại tâm thu thất.</p> Nguyễn Quý Quyền Đỗ Thị Hiến Nguyễn Thị Hải Yến Phạm Thị Hằng Nguyễn Phương Nguyệt Vũ Nguyên Bình Lê Thị Hồng Gấm Nguyễn Ngọc Trâm Trần Thị Thuý An Nguyễn Đăng Nam Phạm Thị Hồng Hạnh Lê Thanh Xuyên Lê Đại Phong Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3112 Khảo sát tuân thủ điều trị thuốc và một số yếu tố liên quan ở cán bộ cao cấp quân đội mắc tăng huyết áp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3113 <p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả tình trạng tuân thủ dùng thuốc và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ tốt ở cán bộ cao cấp Quân đội mắc tăng huyết áp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 350 cán bộ cao cấp Quân đội mắc tăng huyết áp nguyên phát, điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh cán bộ cao cấp Quân đội từ tháng 6/2025 đến tháng 12/2025. Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá bằng thang điểm Morisky Medication Adherence Scale 8 (MMAS-8); tuân thủ tốt được xác định khi MMAS-8 = 8 điểm. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định yếu tố liên quan. <em>Kết quả:</em> Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 68,75 ± 7,6 tuổi; nhóm ≥ 60 tuổi chiếm 71,1% và nam giới chiếm 98,0%. Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu &lt; 130/80mmHg là 36,6%. Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc chung (MMAS-8 ≥ 6 điểm) đạt 84,9%, trong đó tuân thủ tốt 34,6%, trung bình 50,3% và kém 15,1%. Rào cản thường gặp nhất là thỉnh thoảng quên uống thuốc (54,3%) và quên mang thuốc khi đi xa (27,4%). Hồi quy logistic đa biến cho thấy nhóm 45 - 59 tuổi có khả năng tuân thủ tốt cao hơn nhóm ≥ 60 tuổi (aOR = 2,169; KTC 95%: 1,040 - 4,524; p=0,039). <em>Kết luận:</em> Tuân thủ dùng thuốc ở nhóm nghiên cứu ở mức khá cao, nhưng tỷ lệ tuân thủ tốt và kiểm soát huyết áp mục tiêu còn hạn chế. Cần tăng cường tư vấn cá thể hóa, hỗ trợ nhắc thuốc và đơn giản hóa phác đồ, đặc biệt ở người cao tuổi có bệnh đồng mắc và dùng nhiều thuốc.</p> Nguyễn Trọng Đẳng Nguyễn Văn Triệu Nguyễn Việt Khoa Vũ Thị Phương Lan Hoàng Tố Nga Chử Thị Thanh Huyền Nguyễn Thị Hồng Thắm Hoàng Thị Bích Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3113 Điều trị không phẫu thuật hội chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn: Báo cáo 2 trường hợp lâm sàng https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3114 <p>Hội chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea - OSA) là bệnh lý thường gặp, có liên quan chặt chẽ đến các biến cố tim mạch, rối loạn chuyển hóa và giảm chất lượng cuộc sống. Trong các hội nghị về bệnh lý giấc ngủ ngày nay, nhấn mạnh vai trò tiếp cận đa chuyên khoa và cá thể hoá trong điều trị hội chứng OSA. Cấu trúc sọ mặt liên quan trực tiếp đến giải phẫu đường thở và ảnh hưởng tới cơ chế sinh lý bệnh. Can thiệp răng hàm mặt không phẫu thuật bao gồm nắn chỉnh răng, sử dụng khí cụ đưa hàm dưới ra trước (Mandibular Advancement Device - MAD); trong đó nắn chỉnh răng là phương pháp điều trị thay thế hiệu quả cho bệnh nhân OSA trẻ em và người trẻ có bất thường giải phẫu sọ mặt; khí cụ đưa hàm dưới ra trước thường được chỉ định cho bệnh nhân mắc OSA mức độ nhẹ đến trung bình hoặc không dung nạp CPAP. Bài báo này, chúng tôi trình bày hai ca lâm sàng, một ca trẻ em độ tuổi tăng trưởng có bất thường sọ mặt theo chiều ngang, điều trị nong rộng xương hàm trên và nắn chỉnh răng. Ca bệnh thứ hai là người bệnh độ tuổi trung niên mắc OSA mức độ trung bình, có lùi xương hàm dưới và đáp ứng với điều trị bằng khí cụ đưa hàm dưới ra trước. Từ đó, chúng tôi muốn nhắc tới vai trò của các can thiệp răng hàm mặt không phẫu thuật trong điều trị OSA và đây cũng là tiền đề cho chúng tôi tiếp tục thực hiện những nghiên cứu với quy mô lớn hơn về chủ đề này trong tương lai.</p> Nghiêm Thị Hồng Nhung Nguyễn Huyền Khuê Nguyễn Minh Sang Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3114 Nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD) với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ghép thận https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3116 <p><em>Mục tiêu:</em> Xác định mối liên quan giữa chỉ số đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD) với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ghép thận sau 3 tháng. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 95 bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 đến tháng 5/2026. <em>Kết quả:</em> Chỉ số FMD trung bình là 7,4 ± 1,76%. Nhóm có thời gian ghép thận trên 2 năm có tỷ lệ FMD% ≥ 7,1% cao hơn rõ rệt (71,6%) so với nhóm ghép thận &lt; 2 năm (42,9%), p&lt;0,05. Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn chức năng nội mạc (FMD &lt; 7,1%) ở nhóm có eGFR &lt; 60 ml/phút/1,73m<sup>2</sup> chiếm 93,7%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có eGFR &gt; 60 ml/phút/1,73m<sup>2</sup> (20,2%), p&lt;0,001. <em>Kết luận: </em>Chỉ số FMD% ở bệnh nhân thận ghép có mối liên quan chặt chẽ với thời gian ghép thận và chức năng thận ghép.</p> Hoàng Đình Anh Lê Khánh Ninh Nguyễn Huy Hoàng Trần Thị Bích Hạnh Lê Thanh Mai Nguyễn Thị Hoàng Oanh Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3116 Phân tích đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan ở bệnh nhân u vàng mí mắt tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3117 <p><em>Mục tiêu: </em>Phân tích đặc điểm lâm sàng và khảo sát các yếu tố liên quan ở bệnh nhân u vàng mí mắt. <em>Đối tượng và phương pháp: </em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 51 bệnh nhân được chẩn đoán u vàng mí mắt đến khám và điều trị tại Trung tâm Thẩm mỹ, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 1/2025 đến tháng 4/2026. Khám lâm sàng, đánh giá phân độ tổn thương theo Lee, làm xét nghiệm lipid máu, phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 27.0. <em>Kết quả: </em>Tỷ lệ nữ/nam là 11,7/1 (nữ 92,2%, nam 7,8%); tuổi trung bình 50,9 ± 8,4 tuổi; 78,4% ở độ tuổi 40-59. Yếu tố nguy cơ hàng đầu là rối loạn lipid máu (72,5%); 64,7% bệnh nhân mắc bệnh trên 1 năm. Tổn thương ở mí mắt trên chiếm 98,0%, đối xứng hai bên 72,5%; phân độ Lee độ I chiếm 56,9% và độ III + IV chiếm 41,2%. Phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh và phân độ Lee (p = 0,007): thời gian mắc bệnh tăng dần theo mức độ lan rộng tổn thương. 84,3% bệnh nhân không có triệu chứng cơ năng nhưng 51,0% bị ảnh hưởng tâm lý từ vừa đến nhiều. <em>Kết luận: </em>U vàng mí mắt gặp chủ yếu ở phụ nữ trung niên, liên quan đến rối loạn lipid máu, tổn thương chủ yếu ở mí mắt trên và đối xứng, gây ảnh hưởng tâm lý đáng kể cho người bệnh.</p> Bùi Thị Thu Phương Đặng Văn Em Phạm Thu Hiền Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3117 Phân tích chi phí điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh số 2 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3118 <p><em>Mục tiêu</em><em>:</em> Phân tích cơ cấu chi phí và các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh số 2. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu dữ liệu trên 102 bệnh nhân ra viện từ 01/10/2025 đến ngày 31/12/2025. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án, bảng kê chi phí ra viện và phỏng vấn bệnh nhân. Xử lý và phân tích dữ liệu bằng Microsoft Excel 2019 và SPSS 26. <em>Kết quả:</em> Tổng chi phí điều trị ung thư đại tràng trung bình là 99.097.828 VNĐ/người/năm. Chi phí trực tiếp y tế, chi phí trực tiếp ngoài y tế và chi phí gián tiếp lần lượt chiếm tỷ lệ là 55,9%; 21,0%; 23,1%. Thuốc và dịch truyền chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí trực tiếp y tế (42,1%). Quỹ BHYT chi trả 80,7% chi phí trực tiếp y tế. Các yếu tố làm tăng tổng chi phí có ý nghĩa thống kê gồm: Giai đoạn IV, số bệnh mắc kèm và số đợt điều trị<em>. Kết luận:</em> Gánh nặng kinh tế của ung thư đại tràng rất lớn, chủ yếu do chi phí trực tiếp y tế với thuốc là khoản chi lớn nhất. Cần đẩy mạnh sàng lọc phát hiện sớm ung thư và xây dựng các gói hỗ trợ tài chính nhằm giảm gánh nặng cho bệnh nhân và hệ thống y tế.</p> Đỗ Kiều Linh Nguyễn Khánh Phương Nguyễn Hải Trường Nguyễn Thị Thanh Hương Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3118 Kết quả bước đầu triển khai phẫu thuật tim ít xâm lấn tại Bệnh viện Quân y 103 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3119 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả bước đầu triển khai phẫu thuật tim ít xâm lấn (IXL) tại Bệnh viện Quân y 103. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả tiến cứu các bệnh nhân được phẫu thuật tim IXL từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2025. Thu thập các dữ liệu lâm sàng, thời gian phẫu thuật, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, biến chứng, thời gian nằm viện và kết quả sớm sau mổ. <em>Kết quả:</em> Có 14 bệnh nhân được phẫu thuật, bao gồm: Sửa van hai lá, thay van hai lá, vá thông liên nhĩ, cắt u nhĩ. &nbsp;Đường mổ qua liên sườn IV thành ngực trước bên phải. Tuần hoàn ngoại vi qua động mạch đùi - tĩnh mạch đùi và tĩnh mạch cảnh. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) trung bình 218,4 ± 41,3 phút. Thời gian kẹp động mạch chủ (ĐMC) trung bình 141,7 ± 24,4 phút. Không có tử vong sớm. Không ghi nhận tai biến. Tỷ lệ biến chứng thấp: Duy nhất 1 trường hợp chảy máu phải mổ lại. Thời gian thở máy trung bình 6,4 ± 1,9 giờ. Thời gian nằm hồi sức là 1 ngày. <em>Kết luận:</em> Phẫu thuật tim ít xâm lấn tại Bệnh viện Quân y 103 bước đầu cho thấy an toàn, khả thi.</p> Vũ Đức Thắng Lê Bá Hạnh Nguyễn Thế Kiên Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3119 Yếu tố tiền phẫu liên quan đến nhiễm khuẩn sau ghép gan https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3120 <p><em>Mục tiêu:</em> Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm nhiễm khuẩn sau ghép gan và xác định các yếu tố tiền phẫu liên quan đến nhiễm khuẩn trong giai đoạn hậu phẫu sớm. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu hồi cứu trên 80 bệnh nhân ghép gan tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau ghép gan là 41,3%, thời gian nhiễm khuẩn trung bình là 12 ngày sau phẫu thuật. Các vị trí nhiễm khuẩn thường gặp gồm hô hấp (45,4%), ổ bụng (33,3%) và nhiễm khuẩn huyết (27,3%). Vi khuẩn Gram âm chiếm 70,7%, chủ yếu gồm <em>Klebsiella pneumoniae</em> (22,0%), <em>E.</em> <em>coli</em> (14,6%) và <em>Acinetobacter baumannii</em> (13,9%); vi khuẩn Gram dương chiếm 29.3%, trong đó <em>Enterococcus faecium</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (17,1%) tiếp theo là <em>Enterococcus faecalis</em> và <em>Staphylococcus epidermidis </em>(mỗi loại 4,4%). Bệnh não gan (OR = 3,1; p=0,03), liệu pháp thay huyết tương trước ghép (OR 3,9; p=0,005), tình trạng dinh dưỡng đánh giá theo SGA B hoặc C (OR 2,6; p=0,03) và nhiễm khuẩn trước ghép (OR = 3,9; p=0,01) là các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm khuẩn sau ghép. <em>Kết luận:</em> Nhiễm khuẩn sau ghép gan vẫn phổ biến và liên quan chặt chẽ đến tình trạng bệnh nặng trước ghép. Việc can thiệp và cải thiện các yếu tố nguy cơ tiền phẫu có thể giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và nâng cao kết quả sau ghép.</p> Ngô Đình Trung Nguyễn Thị Nga Đỗ Thanh Hòa Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3120 Nhân một trường hợp ung thư tuyến tiền liệt phát hiện sau 6 lần sinh thiết https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3121 <p>&nbsp;</p> <table width="662"> <tbody> <tr> <td width="378"> <p><strong>Nguyễn Hoàng Đức*, Phạm Thanh Trúc </strong></p> <p><strong>và Châu Minh Duy</strong></p> </td> <td width="284"> <p><em>Bệnh viện Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh</em></p> </td> </tr> </tbody> </table> <p>Tóm tắt<a href="#_ftn1" name="_ftnref1"> </a></p> <p><em>Mục tiêu:</em> Báo cáo một trường hợp ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) thách thức trong chẩn đoán với 5 lần sinh thiết hệ thống âm tính. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Bệnh nhân nam theo dõi từ năm 2015 với nồng độ PSA tăng dần, có sử dụng thuốc ức chế 5-alpha-reductase (5-ARI). Các phương pháp chẩn đoán bao gồm đo PSA huyết thanh, cộng hưởng từ (MRI) đa thông số và sinh thiết hệ thống. <em>Kết quả:</em> Sau 5 lần sinh thiết âm tính mặc dù có hình ảnh PI-RADS 4, lần sinh thiết thứ 6 phát hiện ung thư biểu mô tuyến (Gleason 3+3). Sau khi phẫu thuật robot cắt tuyến tiền liệt tận gốc, kết quả giải phẫu bệnh cho thấy độ ác tính cao hơn (Gleason 4+4) với biến thể tuyến ống (ductal adenocarcinoma). <em>Kết luận:</em> Ca bệnh cho thấy tầm quan trọng của việc điều chỉnh chỉ số PSA khi dùng 5-ARI, vai trò của MRI trong định hướng sinh thiết đích và nguy cơ lệch tầng độ ác tính giữa sinh thiết và bệnh phẩm sau mổ.</p> Nguyễn Hoàng Đức Phạm Thanh Trúc Châu Minh Duy Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3121 Đánh giá kết quả đặt stent thực quản trên nhóm bệnh nhân ung thư thực quản không có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3122 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả điều trị giảm nhẹ bằng đặt stent thực quản trên bệnh nhân ung thư thực quản không còn chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 01/2020 - 06/2024. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 28 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư thực quản không còn chỉ định phẫu thuật và được đặt stent thực quản. Các chỉ số về hiệu quả lâm sàng, biến chứng và thời gian sống thêm được thu thập và phân tích. <em>Kết quả:</em> Kết quả chung của thủ thuật là tốt với 18/28 (chiếm 64,3%). Stent dài 11cm chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,6%, tiếp theo là stent dài 13cm với tỷ lệ 25%, thấp nhất là stent 17cm chiếm 10,7%. Độ nuốt khó giảm trung bình: 2,00 ± 0,61 (với p&lt;0,0001). Biến chứng đau ngực gặp ở 78,6% bệnh nhân sau đặt stent, có 1 bệnh nhân (6,5%) có biến chứng nôn ói và 1 bệnh nhân có xuất huyết sau đặt stent thực quản. Biến chứng muộn hay gặp nhất sau đặt stent thực quản là đau ngực dai dẳng, chiếm 50,0%; biến chứng ít gặp nhất là tắc stent (7,1%). Thời gian sống thêm trung bình của BN: 4,3 ± 3,4 tháng, thời gian sống thêm thấp nhất là 15 ngày, nhiều nhất là 14 tháng. Bệnh nhân giai đoạn IIIA, IIIB có thời gian sống thêm (6,3 tháng) dài hơn so với giai đoạn IVA, IVB (2,8 tháng). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,004 (&lt;0,05). <em>Kết luận:</em> Đặt stent thực quản là phương pháp điều trị giảm nhẹ hiệu quả và an toàn ở bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn muộn không còn chỉ định phẫu thuật, giúp cải thiện đáng kể triệu chứng nuốt khó và chất lượng sống. Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng, đặc biệt là đau ngực, còn tương đối cao và thời gian sống thêm vẫn hạn chế, phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh. Việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và tối ưu chiến lược điều trị đa mô thức có thể góp phần cải thiện kết quả điều trị trong nhóm bệnh nhân này.</p> Hoàng Mạnh Huy Nguyễn Xuân Hoà Lê Tư Hoàng Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3122 Kết quả chu phẫu của tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ ở bệnh nhân sỏi thận có nhiễm khuẩn niệu trước phẫu thuật https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3123 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả chu phẫu của tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ (mini-PCNL) ở bệnh nhân sỏi thận có tiền sử nhiễm khuẩn niệu. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân sỏi thận có tiền sử nhiễm khuẩn niệu được điều trị bằng mini-PCNL tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2025. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm đặc điểm vi khuẩn học, thời gian điều trị kháng sinh trước mổ, đặc điểm kỹ thuật phẫu thuật, biến chứng sau mổ và kết quả sạch sỏi. <em>Kết quả:</em> <em>Escherichia coli</em> là tác nhân thường gặp nhất (48,5%). Thời gian điều trị kháng sinh trước phẫu thuật trung bình là 9,8 ± 3,1 ngày. Đường chọc dò chủ yếu qua đài giữa (65,9%), đa số bệnh nhân chỉ cần một đường hầm (90,2%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 51,10 ± 12,42 phút, không ghi nhận tai biến trong mổ. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 22%, chủ yếu là sốt (17,1%) và nhiễm khuẩn niệu (4,9%), không có biến chứng Clavien-Dindo ≥ III. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 78,0%; phần lớn bệnh nhân có kết quả điều trị tốt (80,5%). <em>Kết luận:</em> Mini-PCNL là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi thận có tiền sử nhiễm khuẩn niệu khi tình trạng nhiễm khuẩn được kiểm soát tốt trước phẫu thuật. Điều trị kháng sinh phù hợp kết hợp dẫn lưu giải áp khi cần thiết có vai trò quan trọng trong giảm biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.</p> Nguyễn Việt Hải Nguyễn Bá Tuấn Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3123 Kết quả dài hạn và yếu tố tiên lượng phục hồi chức năng người bệnh chảy máu não nguyên phát trên lều được phẫu thuật nội soi có định vị thần kinh hỗ trợ https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3125 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả dài hạn và một số yếu tố tiên lượng phục hồi chức năng xấu ở người bệnh (NB) chảy máu não nguyên phát trên lều (CMNNP) được điều trị bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) có định vị thần kinh hỗ trợ tại Bệnh viện Quân y 103. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, không đối chứng trên 51 người bệnh. Đánh giá kết quả chức năng theo mRS tại 6 và 12 tháng. Phân tích hồi quy logistic xác định yếu tố tiên lượng. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ phục hồi chức năng xấu (mRS 4 - 6) là 43,2% tại 6 tháng và 47,1% tại 12 tháng. Các yếu tố liên quan đến kết quả xấu gồm tuổi ≥ 60, NIHSS ≥16, ESSEN ≥ 6 và tăng thân nhiệt ngày thứ 3 sau mổ. Hồi quy đa biến xác định ESSEN ≥ 6 (OR = 0,148, p=0,006) và tỷ lệ lấy máu tụ (OR = 0,934, p=0,048) là các yếu tố tiên lượng độc lập. <em>Kết luận:</em> Tình trạng chức năng dài hạn phụ thuộc vào mức độ nặng ban đầu và tỷ lệ lấy máu tụ.</p> Trịnh Văn Trung Nguyễn Thành Bắc Đặng Phúc Đức Nguyễn Xuân Phương Trần Anh Đức Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3125 Nghiên cứu theo dõi dọc sự thay đổi chức năng cương dương ở bệnh nhân phẫu thuật cắt đốt nội soi qua niệu đạo điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3126 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá sự thay đổi chức năng cương dương sau phẫu thuật cắt đốt nội soi qua niệu đạo điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt. <em>Đối tượng và phương</em> <em>pháp:</em> Nghiên cứu theo dõi dọc trên 141 bệnh nhân chẩn đoán xác định tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2020 - 12/2022. Chức năng cương dương được đánh giá bằng thang điểm IIEF-5 tại các thời điểm trước mổ, sau mổ 3 và 6 tháng. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ bệnh nhân quan hệ tình dục trở lại tăng dần sau mổ và đạt 100% từ tháng thứ 4. Rối loạn cương dương có xu hướng tăng sau mổ và phần lớn ở mức độ trung bình và nặng. Điểm IIEF-5 giảm có ý nghĩa thống kê trước và sau mổ nhưng không có sự khác biệt giữa thời điểm 3 và 6 tháng sau mổ. Các khía cạnh của rối loạn cương bị ảnh hưởng nhiều nhất là độ cứng dương vật, khả năng duy trì cương và mức độ thỏa mãn khi giao hợp. <em>Kết luận:</em> Nghiên cứu ghi nhận chức năng cương dương giảm sau phẫu thuật cắt đốt nội soi qua niệu đạo, sự suy giảm xuất hiện sớm và duy trì ổn định trong 6 tháng theo dõi. Cần tư vấn trước mổ và theo dõi chức năng tình dục sau phẫu thuật để có chiến lược hỗ trợ phù hợp.</p> Cao Mạnh Long Nguyễn Gia Hào Ngô Duy Anh Nguyễn Thùy Chi Hạ Hồng Cường Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3126 Phẫu thuật nội soi xuyên chân bướm xử trí rò dịch não tủy ở ngách bên xoang bướm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương: Báo cáo chùm ca bệnh https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3127 <p><em>Mục tiêu:</em> báo cáo chùm 03 ca bệnh rò dịch não tủy qua ngách bên xoang bướm được phẫu thuật nội soi xuyên chân bướm bít lấp đường rò tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> báo cáo chùm ca bệnh. <em>Kết quả:</em> Cả 3 ca bệnh đều có quá khí hóa xoang bướm ở cả cánh lớn và chân xương bướm, được phẫu thuật nội soi xuyên chân bướm để tiếp cận vị trí rò, sử dụng vật liệu nhiều lớp bao gồm cân cơ đùi, mảnh ghép sụn, vạt niêm mạc vách ngăn, sau đó gia cố bằng keo sinh học, cố định bằng surgicel và merocel mũi. Sau mổ được chăm sóc theo quy trình chung của bệnh nhân phẫu thuật rò dịch não tủy qua mũi. Kết quả cho thấy cả 3 ca đều thành công, không để lại di chứng, không tái phát với thời gian theo dõi 15 - 18 tháng. <em>Kết luận:</em> Phẫu thuật nội soi xuyên chân bướm là phương pháp an toàn, cho thấy tính khả thi và kết quả bước đầu khả quan trong điều trị rò dịch não tủy qua ngách bên xoang bướm, đây là kỹ thuật đã được thực hiện thành công tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.</p> Hà Minh Lợi Trần Thị Thu Hằng Nguyễn Thị Linh Chi Hoàng Ngọc An Nguyễn Thị Thanh Minh Nguyễn Văn Luận Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3127 Kết quả chức năng và liền xương sau phẫu thuật pfna điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi: Báo cáo 36 trường hợp có theo dõi cuối kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3128 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả chức năng và liền xương sau phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh nội tủy chống xoay đầu gần xương đùi (PFNA) trong điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca trên 36 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh PFNA từ tháng 09/2022 đến tháng 09/2023 và có đầy đủ dữ liệu theo dõi cuối kỳ. Các kết cục đánh giá gồm tình trạng liền xương, góc cổ–thân, chỉ số tip-apex distance - TAD, biến chứng và chức năng khớp háng theo thang điểm Harris Hip Score - HHS. Thời gian theo dõi trung bình là 26,8 tháng. <em>Kết quả:</em> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 68,8 ± 16,6 tuổi; nam chiếm 63,9%. Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tự ngã, chiếm 97,2%. Phân loại gãy theo AO/OTA gồm A1: 25,0%, A2: 69,4% và A3: 5,6%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 74,3 ± 24,6 phút; lượng máu mất trung vị là 100ml [50; 200]. Tại thời điểm đánh giá cuối kỳ, 36/36 bệnh nhân ghi nhận liền xương; 100% có góc cổ - thân trong khoảng 120 - 130°; TAD trung bình là 22,7 ± 5,6mm. Kết quả HHS đạt tốt và rất tốt ở 32/36 bệnh nhân, chiếm 88,9%. Chưa ghi nhận biến chứng sớm hoặc muộn trong nhóm bệnh nhân được theo dõi. <em>Kết luận:</em> Trong nhóm 36 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi có dữ liệu theo dõi đầy đủ, phẫu thuật kết hợp xương bằng PFNA ghi nhận tỷ lệ liền xương cao, phục hồi trục cổ-thân tốt và kết quả chức năng khớp háng khả quan.</p> Vi Văn Dương Võ Văn Mẫn Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3128 Tăng cường bằng mảnh ghép trong kỹ thuật khâu điều trị rách lớn gân cơ chóp xoay - đánh giá kết quả ban đầu https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3129 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả lâm sàng ban đầu của khâu gân cơ chóp xoay tăng cường bằng mảnh ghép trong điều trị rách lớn gân cơ chóp xoay tại Bệnh viện Sài Gòn ITO Phú Nhuận. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca rách lớn gân cơ chóp xoay được điều trị bằng phẫu thuật khâu gân cơ chóp xoay tăng cường mảnh ghép. Kết quả được ghi nhận tại 4 thời điểm: Trước phẫu thuật (L1), sau phẫu thuật 3 tháng (L2), sau phẫu thuật 6 tháng (L3) và lần theo dõi xa nhất sau phẫu thuật (L4 - tối thiểu là 7 tháng). Các thang điểm Constant-Murley và UCLA được sử dụng để đánh giá đau, chức năng và vận động khớp vai. <em>Kết quả: </em>Nghiên cứu gồm 9 bệnh nhân trong đó có 5 bệnh nhân nam và 4 bệnh nhân nữ, tuổi trung bình 63,78 ± 8,14 tuổi, dao động từ 55 đến 81 tuổi. Điểm Constant-Murley trung bình tăng từ 38,6 ± 10,8 trước phẫu thuật lên 77,3 ± 5,2 tại lần theo dõi gần nhất. Điểm UCLA trung bình tăng từ 10,7 ± 3,3 lên 32,4 ± 1,8. Sau phẫu thuật, triệu chứng đau giảm, tầm vận động và chức năng khớp vai cải thiện dần qua các mốc theo dõi. Tại lần đánh giá cuối, đa số bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm UCLA. Trong thời gian theo dõi, chưa ghi nhận biến chứng nặng cần can thiệp lại. <em>Kết luận:</em> Kỹ thuật điều trị cho kết quả lâm sàng ban đầu khả quan, thể hiện qua các thời điểm theo dõi. Kết quả này gợi ý tính khả thi của kỹ thuật và xu hướng cải thiện lâm sàng ở bệnh nhân rách lớn chóp xoay.</p> Nguyễn Văn Huy Nguyễn Văn Thuật Nguyễn Chí Nam Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3129 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả phẩu thuật gãy liên mấu chuyển xương đùi bằng đinh gamma 3 trên màn hình tăng sáng tại Bệnh viện đa khoa Bình Thuận https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3130 <p><em>Đặt vấn đề:</em> Gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi có tỷ lệ tử vong và biến chứng cao. Phẫu thuật đinh Gamma 3 dưới màn hình tăng sáng là kỹ thuật ít xâm lấn nhưng chưa được nghiên cứu hệ thống tại tuyến tỉnh. <em>Mục tiêu:</em> Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả phẫu thuật gãy liên mấu chuyển xương đùi bằng đinh Gamma 3 trên màn hình tăng sáng tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 50 người bệnh ≥ 60 tuổi gãy kín liên mấu chuyển xương đùi do chấn thương, được phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận từ 6/2025 - 12/2026. <em>Kết quả:</em> Tuổi trung bình 78,90 ± 9,12; nữ chiếm 70,0%. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn sinh hoạt (94,0%). Gãy loại A2 chiếm 88,0%; 68,0% có tổn thương thành ngoài. Thời gian mổ trung bình 62,34 ± 21,20 phút; lượng máu mất trung bình 202,00 ± 63,86ml. Nắn chỉnh kín thành công 90,0%; sau mổ 68,0% đạt góc cổ-thân &gt; 130°. Chất lượng nắn chỉnh tốt 20,0%, chấp nhận được 78,0%. Kết luận: Phẫu thuật ít xâm lấn bằng đinh Gamma 3 trên màn hình tăng sáng là khả thi, an toàn, thời gian mổ ngắn, mất máu ít, chất lượng nắn chỉnh đạt yêu cầu cao ở người cao tuổi.</p> Lê Huỳnh Phúc Trần Hồng Vũ Nguyễn Văn Được Đỗ Hồng Vũ Huỳnh Phan Ngọc Bửu Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3130 Kết quả sớm phẫu thuật nội soi qua niệu đạo cắt u nguyên khối điều trị ung thư bàng quang chưa xâm lấn cơ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3131 <p><em>Mục tiêu:</em> Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi qua niệu đạo cắt u bàng quang nguyên khối (Endoscopic En Bloc Resection of Bladder Tumor - ERBT) điều trị ung thư bàng quang chưa xâm lấn cơ (Non-Muscle Invasive Bladder Cancer - NMIBC) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. <em>Đối tượng và phương pháp</em>: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 48 bệnh nhân NMIBC được phẫu thuật ERBT từ tháng 12/2024 đến tháng 3/2026. <em>Kết quả:</em> Tuổi trung bình 64,2 ± 13,9 (27-86 tuổi), tỷ lệ nam/nữ = 2,7/1. Tiểu máu là lý do vào viện thường gặp nhất (45,8%). Trên cộng hưởng từ, tỷ lệ VI-RADS ≥ 3 chiếm 57,9%, song toàn bộ được xác định chưa xâm lấn cơ trên giải phẫu bệnh. Thời gian phẫu thuật trung bình 17,1 ± 3,9 phút. Tai biến trong mổ: Kích thích phản xạ thần kinh bịt 8,3%, thủng bàng quang ngoài phúc mạc 4,2%, đều xử trí bảo tồn. Giải phẫu bệnh: 100% ung thư biểu mô đường niệu, giai đoạn T1, độ ác tính cao chiếm 83,3%. Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm chân u có lớp cơ đạt 87,5%. Kết quả phẫu thuật tốt 85,4%. Tỷ lệ không tái phát qua siêu âm sau 3 tháng đạt 95,2% (40/42 bệnh nhân tái khám). <em>Kết luận:</em> Kết quả bước đầu cho thấy ERBT là kỹ thuật khả thi, thời gian phẫu thuật ngắn, tai biến thấp và chất lượng bệnh phẩm tốt, là lựa chọn có giá trị trong điều trị NMIBC.</p> Nguyễn Thanh Tuấn Trần Đức Dũng Hoàng Đại Phú Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3131 Thai nhi bất thường não phức tạp được chẩn đoán mắc hội chứng opitz-kaveggia do biến thể gây bệnh gen MED12: báo cáo ca bệnh đầu tiên tại Việt Nam https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3132 <p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả đặc điểm hình thái trước sinh và giá trị của chẩn đoán di truyền trong việc phát hiện Hội chứng Opitz-Kaveggia, qua đó góp phần định hướng tiên lượng và tư vấn di truyền. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Báo cáo một trường hợp thai 22–26 tuần tuổi có bất thường hệ thần kinh trung ương trên siêu âm. Thai được khảo sát hình thái chi tiết bằng siêu âm và MRI, đồng thời được thực hiện giải trình tự exome (ES) trên mẫu dịch ối nuôi cấy để tìm nguyên nhân di truyền. <em>Kết quả:</em> Siêu âm và MRI ghi nhận các bất thường não gồm: giãn não thất hai bên, thiểu sản thể chai, không quan sát được vách trong suốt, rãnh Sylvius kém phát triển và tiểu não nhỏ. Phân tích exome phát hiện biến thể gây bệnh <em>MED12</em>:c.2881C&gt;T, bán hợp tử, qua đó xác định chẩn đoán hội chứng Opitz-Kaveggia. <em>Kết luận:</em> Trường hợp này cho thấy việc kết hợp siêu âm, MRI và phân tích di truyền phân tử có vai trò quan trọng trong chẩn đoán trước sinh hội chứng hiếm Opitz-Kaveggia. Kết quả giúp mở rộng phổ kiểu hình thai nhi, hỗ trợ tiên lượng, quản lý thai kỳ và tư vấn nguy cơ tái mắc cho gia đình.</p> Cao Xuân Long Lương Thị Lan Anh Hoàng Thị Ngọc Lan Nguyễn Hữu Đức Anh Nguyễn Phương Mai Lê Nguyễn Hương Giang Nguyễn Thị Duyên Nguyễn Ngân Hà Lê Thị Hạnh Trần Đăng Minh Hiếu Nguyễn Thế Hùng Đào Thị Trang Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3132 Tương quan giữa đáp ứng trên MRI và đáp ứng mô bệnh học ở bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II-III được hóa xạ trị tân bổ trợ toàn diện https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3133 <p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá sự tương quan giữa đáp ứng trên MRI (mrTRG) với đáp ứng mô bệnh học ở bệnh nhân ung thư trực tràng (UTTT) giai đoạn II-III sau liệu pháp tân bổ trợ toàn diện (TNT). <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 125 bệnh nhân UTTT giai đoạn II-III tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và Bệnh viện TWQĐ 108 từ tháng 3/2022 đến tháng 01/2025. Bệnh nhân được điều trị TNT (hóa xạ trị đồng thời với Capecitabine kết hợp hóa trị củng cố mFOLFOX6/CAPEOX) và phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME). Đáp ứng khối u trực tràng trên MRI được đánh giá theo thang điểm mrTRG (MERCURY) và đáp ứng mô bệnh học theo AJCC/CAP. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ đáp ứng tốt (mrTRG 1-2) trên MRI là 40%, trong khi tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (pCR) đạt 32,8%. Có sự tương quan mức độ trung bình giữa đánh giá mrTRG 1-2 và pCR với chỉ số Kappa = 0,502. mrTRG 1-2 dự đoán pCR với độ nhạy 75,6%; độ đặc hiệu 77,4%; giá trị dự đoán dương tính 62%; giá trị dự đoán âm tính 86,7%, độ chính xác 76,8% với tỷ suất chênh OR = 10,6 (p&lt;0,0001. <em>Kết luận:</em> Phân loại mrTRG trên MRI sau TNT có sự tương quan mức độ trung bình và giá trị tiên lượng khá tốt với đáp ứng mô trên bệnh học, hỗ trợ đắc lực trong việc cá thể hóa chiến lược điều trị UTTT.</p> Nguyễn Hải Hoàng Nguyễn Thị Hà Nguyễn Đình Châu Nguyễn Trung Đức Lê Thị Thanh Xuân Hồ Hữu An Bùi Quang Biểu Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3133 Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan ở bệnh nhân có alpha-fetoprotein < 20ng/mL https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3134 <p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả đặc điểm hình ảnh và đánh giá giá trị của cộng hưởng từ (MRI) trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) ở bệnh nhân có AFP &lt; 20ng/mL. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu, có đối chiếu giải phẫu bệnh trên 122 bệnh nhân được chụp MRI gan tại Bệnh viện K - Cơ sở Tân Triều từ tháng 06/2025 đến tháng 12/2025; kết quả MRI được phân loại theo LI-RADS 2018 ở nhóm nguy cơ cao và đánh giá đa tham số ở nhóm không có nguy cơ cao. Kết quả: Có 57 HCC và 65 tổn thương không HCC. HCC chủ yếu là thể khối/nốt (98,25%), một u (66,67%), kích thước trung bình 43,56 ± 19,04 mm. Các dấu hiệu nổi bật gồm APHE không viền (94,74%), tăng tín hiệu T2W (96,49%), giảm tín hiệu T1W (92,98%), hạn chế khuếch tán thật sự (70,18%), thải thuốc thì muộn (68,42%) và vỏ khối u (47,37%). Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính, độ chính xác và ROC-AUC lần lượt là 82,46%, 86,15%, 83,93%, 84,85%, 84,43% và 0,843 (95%CI: 0,771 - 0,915). <em>Kết luận:</em> Ở bệnh nhân AFP &lt; 20ng/mL, HCC trên MRI thường có APHE không viền, tăng tín hiệu T2W/DWI, giảm tín hiệu T1W, hạn chế khuếch tán và thải thuốc rõ hơn ở thì muộn, MRI giúp phân biệt HCC với tổn thương gan không HCC ở mức cao trong quần thể nghiên cứu.</p> Nguyễn Văn Tấu Nguyễn Xuân Khái Trần Công Hoan Nguyễn Minh Châu Copyright (c) 2026-08-15 2026-08-15 10.52389/ydls.v21i7.3134