https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/issue/feedJournal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy2026-10-05T09:24:07+00:00PHÒNG KHOA HỌC QUÂN SỰtapchi108@gmail.comOpen Journal Systemshttps://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3138Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh lý liên quan kháng thể Mog (MOGAD): Báo cáo hai ca bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp2026-10-05T09:20:52+00:00Nguyễn Thị Thu Huyềnthuhuyenhaiphong@gmail.comNguyễn Thị Thu ThủyA@gmail.com<p>Bệnh liên quan đến kháng thể kháng myelin oligodendrocyte glycoprotein (MOG) là một rối loạn tự miễn tương đối mới với các kháng thể chống lại (MOG) chủ yếu liên quan đến não, thị giác và tủy sống, thường dẫn đến rối loạn ý thức hành vi, mất thị lực và liệt khu trú. Trên lâm sàng, viêm não tủy liên quan đến kháng thể kháng MOG có biểu hiện đa dạng, dễ bị chẩn đoán nhầm với các bệnh lý thần kinh khác như xơ cứng rải rác (MS), viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) liên quan đến kháng thể kháng AQP4 hay viêm não tủy lan tỏa cấp tính (ADEM). Chúng tôi xin báo cáo 2 ca lâm sàng được chẩn đoán bệnh MOGAD và điều trị bằng liệu pháp corticosteroid tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3140Tình trạng suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở người bệnh sau đột quỵ não tại Bệnh viện Hữu nghị năm 20252026-10-05T09:21:03+00:00Phạm Thị Hạnhhanh.yhd@gmail.comBùi Thị LoanA@gmail.comBùi Thị HậuA@gmail.com<p><em>Mục tiêu: </em>1) Mô tả tình trạng suy giảm nhận thức ở người bệnh sau đột quỵ não tại Bệnh viện Hữu Nghị năm 2025; 2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng này. <em>Đối tượng và phương pháp: </em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 58 người bệnh từ 60 tuổi trở lên điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2025. Tình trạng nhận thức được sàng lọc bằng thang đo trạng thái tâm thần tối thiểu MMSE (Mini Mental State Examination). Dữ liệu được phân tích bằng kiểm định Chi-square và hồi quy logistic đa biến. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ người bệnh suy giảm nhận thức là 51,7%, với 24,1% ở mức độ nặng. Thói quen sử dụng rượu bia (aOR = 7,327, p=0,019) và nhập viện sau 6 giờ kể từ khởi phát đột quỵ não (aOR = 7,618, p=0,021) là hai yếu tố có mối liên quan độc lập làm gia tăng khả năng hiện mắc suy giảm nhận thức. <em>Kết luận:</em> Suy giảm nhận thức là vấn đề đáng lưu ý ở người bệnh sau đột quỵ não. Cần lồng ghép sàng lọc nhận thức vào quy trình điều trị và tư vấn để hỗ trợ cá thể hóa kịp thời.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3142Đa hình rs320 gen lipoprotein lipase ở bệnh nhân viêm tụy cấp tăng triglyceride máu2026-10-05T09:21:13+00:00Trần Ngọc TrinhA@gmail.comKha Hữu NhânA@gmail.comTrần Đình Trítrantri73@gmail.com<p class="ghichu"><em><span lang="EN-US">Mục tiêu:</span></em><span lang="EN-US"> Nghiên cứu tỷ lệ đa hình rs320 gen lipoprotein lipase (LPL) và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân viêm tụy cấp tăng triglyceride máu, đồng thời khảo sát mối liên quan giữa đa hình này với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh trên 24 bệnh nhân viêm tụy cấp tăng triglyceride máu (triglyceride > 11,3mmol/L) và 24 bệnh nhân viêm tụy cấp không tăng triglyceride điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ giai đoạn 2024 - 2026. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR kết hợp giải trình tự Sanger từ mẫu máu tĩnh mạch để định kiểu gen đa hình <em>rs320</em> của gen LPL; dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS với các phép kiểm định thống kê phù hợp. <em>Kết quả:</em> kiểu gen TT (OR = 6,333; KTC 95%: 1,751 - 22,912, p=0,005) liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ viêm tụy cấp tăng triglyceride; nồng độ triglyceride cao hơn rõ rệt ở nhóm mang kiểu gen TT (p=0,047). Đồng thời, nữ giới có xu hướng mang kiểu gen TT với tần suất cao hơn so với nam giới (p=0,036). <em>Kết luận:</em> Đa hình<em> rs320</em> gen LPL, đặc biệt kiểu gen TT, là yếu tố di truyền liên quan đến viêm tụy cấp tăng triglyceride máu, gợi ý vai trò tiềm năng trong sàng lọc sớm và định hướng chiến lược dự phòng cá thể hóa cho nhóm nguy cơ cao</span></p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3145Thực trạng suy giảm nhận thức ở người cao tuổi đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 20262026-10-05T09:21:23+00:00Nguyễn Thị Thúy HiếuA@gmail.comNguyễn Thùy Linhntlinh@hpmu.edu.vn<p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả đặc điểm suy giảm nhận thức ở người cao tuổi đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2026. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 405 người từ 60 tuổi trở lên đến khám ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 10/2025 đến tháng 5/2026. Đánh giá chức năng nhận thức theo thang trắc nghiệm trạng thái tâm thần tối thiểu (Mini-Mental State Examination - MMSE). <em>Kết quả:</em> 18,5% đối tượng nghiên cứu có suy giảm nhận thức. Chức năng nhớ lại từ và chú ý tính toán có tỷ lệ suy giảm cao nhất (73,6% và 61,5%). Tỷ lệ suy giảm nhận thức có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân. <em>Kết luận:</em> Tỷ lệ suy giảm nhận thức ở người cao tuổi đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng là cao. Chức năng nhận thức bị suy giảm chủ yếu là nhớ lại; chú ý và tính toán. Đánh giá định kỳ chức năng nhận thức của người cao tuổi là cần thiết.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3147Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ bại não liên quan đến thiếu oxy não2026-10-05T09:21:32+00:00Lê Thu Hươngthuhuongrehab@gmail.comNguyễn Hoàng PhươngA@gmail.comNguyễn Thị Ngọc ThủyA@gmail.comPhạm Văn MinhA@gmail.com<p>Suy dinh dưỡng là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở trẻ bại não. Mục tiêu nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến chiều cao, cân nặng, BMI ở trẻ bại não có tiền sử thiếu oxy não. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 58 bệnh nhân được khám tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 56,9%, suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 51,7%, thấp còi chiếm 43,1% tổng số trẻ; đa số trẻ bị suy dinh dưỡng ở mức độ trung bình, 50% trẻ có đồng thời từ 2 đến 3 thể suy dinh dưỡng. Khi GMFCS tăng 1 bậc, cân nặng giảm trung bình 1,57kg và BMI giảm trung bình 0,49kg/m². <em>Kết luận:</em> Trẻ bại não liên quan đến thiếu oxy não có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao, trong đó nhẹ cân và thấp còi là hai thể thường gặp nhất, chủ yếu ở mức độ trung bình. Mức độ bại não có liên quan nghịch với chiều cao, cân nặng và BMI của trẻ.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3149Khảo sát tỷ lệ triệu chứng lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân mày đay mạn tính bằng thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale2026-10-05T09:21:41+00:00Trần Ngọc Mẫn NhiA@gmail.comLý Thị Mỹ Nhung A@gmail.comVăn Thế Trungtrungvan@ump.edu.vn<p><em>Mục tiêu:</em> Khảo sát tỷ lệ triệu chứng lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 126 bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 02/2025 đến tháng 07/2025. Các đặc điểm về dịch tễ và lâm sàng của bệnh nhân được thu thập. Chúng tôi tầm soát triệu chứng lo âu, trầm cảm bằng thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS). <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ triệu chứng lo âu, trầm cảm trên bệnh nhân mày đay mạn tính trong nghiên cứu lần lượt là 43,7% và 20,6%. Bệnh nhân có UAS7 trung bình và cao có khả năng xuất hiện triệu chứng lo âu tăng lần lượt 3,20 lần và 6,57 lần so với nhóm có UAS7 thấp (p<0,05). <em>Kết luận:</em> Triệu chứng lo âu và trầm cảm phổ biến ở bệnh nhân mày đay mạn tính. Mức độ hoạt động bệnh cao là yếu tố liên quan độc lập với triệu chứng lo âu theo HADS. Do đó, việc tầm soát các triệu chứng lo âu, trầm cảm trên bệnh nhân mày đay mạn tính nên được chú trọng trong quản lý bệnh toàn diện, nhằm nhận diện sớm những bệnh nhân cần được đánh giá chuyên sâu hơn về sức khỏe tâm thần.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3150Tác dụng bổ sung Vitamin D đối với một số chỉ số viêm ở bệnh nhân bỏng nặng2026-10-05T09:21:48+00:00Nguyễn Thị Hươngnguyenhuongvbqg10011986@gmail.comPhạm Đức Minh A@gmail.comNguyễn Như Lâm A@gmail.com<p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá tác dụng bổ sung vitamin D đối với chỉ số viêm ở bệnh nhân bỏng nặng. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, trên 104 bệnh nhân bỏng nặng điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2025. Nhóm 1 (đối chứng) gồm 63 bệnh nhân điều trị theo quy trình điều trị thường quy của Bệnh viện, Nhóm 2 (can thiệp) gồm 41 bệnh nhân được điều trị tương tự và bổ sung vitamin D3 với tổng liều 500.000 IU chia trong 5 ngày liên tiếp. Tỷ số bạch cầu trung tính trên bạch cầu lympho (neutrophil-to-lymphocyte ratio -NLR) và chỉ số đáp ứng viêm hệ thống (systemic inflammation response index- SIRI) được đánh giá tại các thời điểm ngày nhập viện (T0), ngày 7 (T7), ngày 14 (T14), ngày 28 (T28). Sự thay đổi theo thời gian của chỉ số viêm được phân tích bằng mô hình hỗn hợp tuyến tính (LMM) đối với ln(NLR), và phương trình ước lượng tổng quát GEE đối với SIRI. <em>Kết quả:</em> Giá trị NLR tương đồng giữa hai nhóm ở T0 và T7, bắt đầu khác biệt có ý nghĩa thống kê từ T14 với nhóm bổ sung vitamin D thấp hơn nhóm chứng 20,8% (p=0,041) và đến T28 thấp hơn 31,1% (p=0,007). NLR giảm trung bình 3,16% mỗi ngày ở nhóm can thiệp so với 1,47% mỗi ngày ở nhóm chứng (p=0,004); Tương tác nhóm × ngày có ý nghĩa thống kê (p=0,004). Giá trị SIRI tương đồng giữa 2 nhóm ở T0 và T7, bắt đầu khác biệt có ý nghĩa thống kê tại T14 và T28. Tỷ số SIRI can thiệp/chứng giảm còn 0,720 tại T14 và 0,640 tại T28, với tương tác nhóm × thời gian có ý nghĩa tương ứng tại T14 (p=0,004) và T28 (p=0,013). SIRI giảm trung bình khoảng 3,7% mỗi ngày ở nhóm bổ sung vitamin D so với 0,8% mỗi ngày ở nhóm chứng; tương tác nhóm × ngày có ý nghĩa thống kê (p<0,001). <em>Kết luận:</em> Bổ sung vitamin D3 với tổng liều 500.000 IU chia trong 5 ngày liên tiếp trên bệnh nhân bỏng nặng thiếu vitamin D có liên quan với mức giảm chỉ số viêm NLR và SIRI, giảm rõ vào ngày 14 đến ngày 28 sau bổ sung.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3151Báo cáo ca lâm sàng: Hội chứng tự miễn insulin do methimazole gây hạ đường huyết ở một phụ nữ trẻ mắc bệnh Graves2026-10-05T09:21:57+00:00Nguyễn Thị Thúythuys0401@gmail.comLưu Thúy QuỳnhA@gmail.comVũ Thị LoanA@gmail.comLê Bích NhànA@gmail.comNguyễn Văn MạnhA@gmail.comPhạm Thị Hồng NhungA@gmail.comNguyễn Thị Thủy LinhA@gmail.com<p><em>Đặt vấn đề:</em> Hội chứng tự miễn insulin (insulin autoimmune syndrome – IAS, hay bệnh Hirata) là một nguyên nhân hiếm gặp gây hạ đường huyết do tăng insulin máu, xuất phát từ sự xuất hiện kháng thể tự miễn kháng insulin nội sinh ở người chưa từng dùng insulin ngoại sinh. Bệnh liên quan chặt chẽ với các thuốc chứa nhóm sulfhydryl (như methimazole/thiamazole) và với các allele HLA-DRB1*04, gặp chủ yếu ở quần thể Đông Á. Theo rà soát của chúng tôi, chưa có ca bệnh tương tự nào được báo cáo tại Việt Nam. <em>Mô tả ca bệnh:</em> Bệnh nhân nữ 34 tuổi, mới được chẩn đoán bệnh Graves và điều trị bằng thiamazole (methimazole) 15 mg/ngày. Khoảng ba tháng sau khi bắt đầu dùng thuốc, bệnh nhân xuất hiện các đợt hạ đường huyết tái diễn với triệu chứng cường giao cảm và thiếu glucose tế bào thần kinh, chủ yếu vào khoảng 3-4 giờ sau ăn, và vẫn tiếp diễn dù đã ngừng toàn bộ thuốc. Lúc nhập viện, glucose máu tĩnh mạch lúc đói 3,55mmol/L với insulin huyết thanh tăng rất cao (1000µU/mL). Trong một cơn có triệu chứng (glucose 3,34mmol/L), insulin 4652,9µU/mL và C-peptide 11,34ng/mL, cho tỉ lệ insulin/C-peptide tăng không tương xứng (8,9; khi quy đổi ra cùng đơn vị đo; bình thường < 1, trong đó nồng độ Insulin được tính theo đơn vị chuẩn µIU/mL, nồng độ C-peptide được tính theo đơn vị ng/mL), kèm kháng thể tự miễn insulin dương tính mạnh (> 175AU/mL). Các xét nghiệm định lượng Insulin, C-peptide và kháng thể IAA đều được làm bằng phương pháp hóa phát quang. Định týp HLA cho kết quả DRB1*0403; siêu âm tụy không phát hiện hình ảnh khối u. Bệnh nhân được chẩn đoán IAS do methimazole. Sau khi ngừng thuốc nghi ngờ, chia nhỏ bữa ăn, dùng acarbose và glucocorticoid đường uống, tình trạng hạ đường huyết cải thiện trong vòng một tuần. Bệnh nhân được chỉ định I-131 để điều trị triệt căn bệnh Graves nhưng không tái khám theo hẹn do bệnh đã đỡ nhiều, hiếm khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng cơn hạ đường huyết. <em>Kết luận:</em> Cần nghĩ tới IAS ở những bệnh nhân Graves xuất hiện hạ đường huyết do tăng insulin máu tái diễn trong quá trình điều trị methimazole, đặc biệt khi tỉ lệ insulin/C-peptide tăng không tương xứng và kháng thể tự miễn insulin dương tính. Nhận biết sớm giúp tránh các thăm dò không cần thiết để tìm u tiết insulin, cho phép ngừng thuốc nghi ngờ và điều trị hỗ trợ kịp thời; bệnh thường có tiên lượng tốt.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3153Đánh giá tác động của bệnh lý tăng huyết áp và đái tháo đường lên nguy cơ bệnh thận mạn: Nghiên cứu tổng quan hệ thống2026-10-05T09:22:07+00:00Nguyễn Lê HiệpA@gmail.comLê Thanh Minh PhươngA@gmail.comPhạm HùngA@gmail.comHà Phan Hải AnA@gmail.comNguyễn Thị Thu HoàiA@gmail.comLê Đức ViệtA@gmail.comKiều Thị Tuyết Maimaiktt@hup.edu.vn<p class="ghichu"><span lang="EN-US">Nghiên cứu tổng quan hệ thống nhằm khái quát mối liên quan giữa hai bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường với nguy cơ mắc bệnh thận mạn. Kết quả phân tích từ các nghiên cứu thuần tập cho thấy bệnh thận mạn có liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp và đái tháo đường, cũng như tương quan với giá trị huyết áp hay các kết quả xét nghiệm HbA1c, glucose máu. Từ kết quả này, cần đề xuất một chiến lược kiểm soát tăng huyết áp và đái tháo đường hiệu quả, nhằm giảm thiểu nguy cơ tiến triển bệnh thận mạn trên nhóm đối tượng nguy cơ này.</span></p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3155Báo cáo ca lâm sàng: Tái tạo Nevi sắc tố bẩm sinh môi trên bằng vạt FAMM dạng đảo2026-10-05T09:22:15+00:00Lưu Phương Lanlanphuongy@gmail.comLê Thị Hải YếnA@gmail.com<p>Nevi sắc tố bẩm sinh ở niêm mạc môi đỏ chiếm trên 1/3 chiều dài môi là một thách thức trong tạo hình để tránh biến dạng và đòi hỏi sử dụng chất liệu thích hợp. Bài báo này trình bày trường hợp lâm sàng một bệnh nhân nam 10 tuổi có nevi sắc tố bẩm sinh môi chiếm hơn 1/3 phải môi trên. Chúng tôi đã tiến hành cắt bỏ nevi và sử dụng vạt niêm mạc cơ động mạch mặt (vạt FAMM) để tái tạo tổn khuyết môi đỏ. Phương pháp này mang lại đường viền môi trên cân đối với nơi cho được đóng trực tiếp và không để lại sẹo sau 16 tháng. Không yêu cầu chỉnh sửa góc mép hoặc cắt cuống. Kỹ thuật này cung cấp một giải pháp hiệu quả cho tổn khuyết môi đỏ môi trên, mang lại cả kết quả chức năng và thẩm mỹ tối ưu.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3156Chiến lược xử trí các tình huống bất thường mạch máu trong phẫu thuật ghép thận: Kinh nghiệm từ 705 ca ghép thận tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 1082026-10-05T09:22:25+00:00Nguyễn Việt HảiA@gmail.comKiều Đức VinhA@gmail.comNguyễn Bá Tuấnnguyentuanmangxahoi@gmail.comDương Hồng QuânA@gmail.comChử Lê Thanh Hùng A@gmail.comTrần Thị Bích HạnhA@gmail.com<p>Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm các tình huống bất thường mạch máu, bao gồm các biến thể giải phẫu và các bất thường phát sinh trong quá trình phẫu thuật ghép thận, đồng thời phân tích các chiến lược xử trí được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 705 ca ghép thận được thực hiện tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Các biến số nghiên cứu bao gồm các tình huống bất thường mạch máu của người hiến và người nhận (bao gồm các biến thể giải phẫu và các bất thường phát sinh trong quá trình phẫu thuật), kỹ thuật xử trí mạch máu và kết quả phẫu thuật. Kết quả: Tỷ lệ bất thường động mạch thận là 21,3% (150/705), chủ yếu là 2 động mạch (19,9%). Bất thường tĩnh mạch chiếm 7,2% (50/705), chủ yếu là tĩnh mạch ngắn. Xử trí động mạch gồm nối riêng rẽ (49,3%) và tạo hình (50,7%), trong đó kỹ thuật tạo hình kiểu nòng súng chiếm ưu thế. Tĩnh mạch được xử trí bằng kéo dài bằng tĩnh mạch sinh dục (46%) hoặc tĩnh mạch hiển (24%). Bất thường mạch máu người nhận gặp 1,9% và đều được xử trí thành công. Kết luận: Bất thường mạch máu là tình trạng thường gặp nhưng có thể xử trí hiệu quả nếu cá thể hóa chiến lược. Các kỹ thuật tái tạo mạch cho phép đảm bảo tưới máu mảnh ghép, không làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện ghép. Bất thường mạch máu không còn là chống chỉ định trong ghép thận hiện đại.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3158Đánh giá các yếu tố nguy cơ và ứng dụng thang điểm Laryngoscore trong dự báo khó khăn khi phẫu thuật nội soi thanh quản ống cứng2026-10-05T09:22:34+00:00Nguyễn Văn Luậndrluan.ent@gmail.comNguyễn Toàn ThắngA@gmail.comNgô Duy ThịnhA@gmail.comPhạm Văn HữuA@gmail.comNguyễn Hoàng HuyA@gmail.comBùi Thế AnhA@gmail.comLê Tuấn Nhật HoàngA@gmail.comNguyễn Quang TrungA@gmail.com<p class="ghichu"><em><span lang="EN-US">Đặt vấn đề</span></em><span lang="EN-US">: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ khó khăn bộc lộ thanh quản trong phẫu thuật nội soi thanh quản ống cứng. Năm 2014, Piazza và cộng sự đã phát triển thang điểm Laryngoscore để dự báo mức độ khó khăn dựa trên nhiều yếu tố. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Tiến cứu mô tả cắt ngang dựa trên 68 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi thanh quản ống cứng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 02/2025 đến tháng 10/2025. Các yếu tố nguy cơ được đánh giá và phân tích dựa trên các thuật toán thống kê, trên phần mềm SPSS 22.0. <em>Kết quả:</em> Các yếu tố nguy cơ có liên quan tới mức độ khó bộc lộ thanh quản (p<0,05): Nam giới, tuổi ≥ 45 tuổi, chu vi cổ ≥ 33,5cm, lồi sụn giáp cao, lưỡi to, chỉ số <a name="_Hlk231994721"></a>BMI ≥ 23kg/m<sup>2</sup>, nội soi thanh quản gián tiếp phải kéo lưỡi nhiều (từ mức độ 2). <a name="OLE_LINK10"></a>Thang điểm Laryngoscore có AUC = 0,810 với điểm cắt là 4 điểm, độ nhạy 74%, và độ đặc hiệu 75%). <em>Kết luận:</em> Thang điểm Laryngoscore cho thấy hiệu quả tốt trong việc phân biệt mức độ khó khăn bộc lộ thanh quản trong phẫu thuật nội soi thanh quản ống cứng. </span></p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3160Kết quả sau ba tháng điều trị u xơ cơ tử cung bằng đốt sóng cao tần xuyên cổ tử cung dưới hướng dẫn siêu âm tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ2026-10-05T09:22:42+00:00Dương Mỹ LinhA@gmail.comBùi Quang Nghĩa A@gmail.comNguyễn Phương Thảophuongthaosdh003@gmail.com<p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá kết quả điều trị u xơ cơ tử cung bằng đốt sóng cao tần xuyên cổ tử cung dưới hướng dẫn siêu âm tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2024 - 2026. <em>Đối tượng và phương pháp</em>: Nghiên cứu theo dõi tiến cứu một nhóm trước và sau điều trị, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trên 54 bệnh nhân điều trị bằng đốt sóng cao tần tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2024 - 2026. Thể tích khối u được tính theo công thức ellipsoid tại thời điểm trước, sau 1 tháng và 3 tháng điều trị. Tỷ lệ giảm thể tích được tính tại thời điểm sau 1 tháng và 3 tháng so với trước điều trị. Điểm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe theo thang UFS-QOL được đánh giá trước và sau điều trị 3 tháng. So sánh bằng kiểm định Wilcoxon signed-rank. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ thành công điều trị chung sau 3 tháng đạt 88,9%. Thời gian thực hiện thủ thuật trung vị 50,0 (40,0 - 60,0) phút. Mức độ đau theo thang đo VAS sau điều trị trung vị 4,0 (2,0 - 6,0) điểm. Thể tích khối u trung bình giảm từ 89,5 ± 57,4cm³ trước điều trị xuống 66,6 ± 51,1cm³ sau 1 tháng và 57,2 ± 51,2cm³ sau 3 tháng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Chất lượng cuộc sống được đánh giá cải thiện rõ rệt với điểm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng giảm từ 61,0 (43,8 - 68,8) xuống 31,3 (26,6 - 40,6) điểm và điểm chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe tăng từ 39,7 (32,8 - 50,4) lên 66,4 (63,8 - 73,5) điểm sau điều trị 3 tháng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. <em>Kết luận</em>: Điều trị bằng đốt sóng cao tần xuyên cổ tử cung dưới hướng dẫn siêu âm giúp giảm thể tích khối u xơ theo thời gian, ghi nhận tỷ lệ biến chứng thấp trong thời gian theo dõi 3 tháng và cải thiện rõ rệt chất lượng cuộc sống.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3161Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống C7 hai bên phối hợp trong gây mê ở trẻ mắc hội chứng Down cho phẫu thuật cố định cột sống cổ C1 - C2 mất vững do tiêu mỏm nha: Báo cáo một trường hợp2026-10-05T09:22:52+00:00Nguyễn Thanh Túthocoi09@gmail.comLương Thị PhươngA@gmail.comTrần Ngọc NamA@gmail.com<p class="ghichu"><span lang="EN-US">Trẻ mắc hội chứng Down có mất vững khớp đội - trục (C1 - C2) là nhóm bệnh nhi có nhiều thách thức đồng thời cho người làm gây mê hồi sức, bao gồm đường thở khó, cột sống cổ không vững và bệnh tim bẩm sinh kèm theo. Chúng tôi mô tả quá trình gây mê hồi sức cho một bệnh nhi nữ 5 tuổi, nặng 15kg, mắc hội chứng Down, tim bẩm sinh đã được phẫu thuật (không còn shunt tồn lưu), có mất vững C1 - C2 do tiêu mỏm nha gây chèn ép tủy và giảm cơ lực nửa người phải (1/5). Bệnh nhi được phẫu thuật cố định C1 - C2 lối sau, cắt cung sau C1 giải ép và ghép xương dưới gây mê nội khí quản. Đường thở được kiểm soát bằng đèn soi thanh quản video với ống nội khí quản cỡ nhỏ, giữ trục cột sống cổ ở vị trí trung gian; đặt ống thành công ngay lần đầu (Cormack - Lehane độ II). Mê được duy trì bằng gây mê tĩnh mạch toàn phần với propofol, kết hợp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESPB) tại mức C7 hai bên dưới hướng dẫn siêu âm trong chiến lược giảm đau đa mô thức. Trong mổ huyết động ổn định, lượng máu mất ước tính không quá 100ml và không phải truyền máu. Kết thúc cuộc mổ, giãn cơ được hóa giải bằng sugammadex và bệnh nhi được rút nội khí quản ngay tại phòng mổ. Trong 24 giờ đầu sau mổ, bệnh nhi không được dùng thêm thuốc giảm đau nào ngoài paracetamol tĩnh mạch cuối cuộc mổ. Trẻ ra viện sau 6 ngày với sức cơ tay phải hồi phục từ 1/5 lên 4/5. Qua trường hợp này, chúng tôi nhận thấy gây mê hồi sức an toàn cho nhóm bệnh nhi này đòi hỏi kiểm soát đường thở có bảo vệ cột sống cổ, duy trì huyết áp trong giới hạn bảo đảm tưới máu tủy, tối ưu hô hấp - tim mạch và giảm đau đa mô thức. Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống C7 hai bên là một lựa chọn giảm đau hứa hẹn cho phẫu thuật cột sống cổ lối sau ở trẻ em; tuy nhiên, do đây là một ca đơn lẻ và không sử dụng được thang đau chuẩn hóa, hiệu quả của kỹ thuật chưa thể khẳng định.</span></p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3162Kết quả nội soi tán sỏi điện thuỷ lực qua đường hầm kehr tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2026-10-05T09:22:59+00:00Trịnh Quốc ĐạtA@gmail.comTrần Bảo LongA@gmail.comĐặng Kim Khuêkhuedang.md@gmail.comBùi Anh HàoA@gmail.comNguyễn Đức AnhA@gmail.com<p><em>Đặt vấn đề:</em> Sỏi đường mật là bệnh lý phổ biến và phức tạp tại Việt Nam với tỷ lệ sót sỏi sau mổ lần đầu rất cao. Sự ra đời của nội soi tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr mở ra hướng đi ít xâm lấn và hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị của phương pháp này tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 40 bệnh nhân sỏi đường mật sót sau phẫu thuật, còn dẫn lưu Kehr và được chỉ định nội soi tán sỏi điện thủy lực từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2025. Thời gian tối thiểu từ lúc mổ đến khi tán sỏi là 3 tuần. Các chỉ số đánh giá gồm tỷ lệ sạch sỏi, số lần và thời gian can thiệp, cùng các tai biến, biến chứng. <em>Kết quả:</em> Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 57,9 ± 15,4 tuổi, trong đó nam giới chiếm 57,5%. Triệu chứng đau bụng phổ biến nhất (35%). Thời gian trung bình từ lúc mổ đến lúc tán sỏi là 5,57 ± 2,10 tuần, với 90% bệnh nhân được can thiệp ở tuần thứ 4 - 8. Vị trí sỏi chủ yếu ở trong gan (57,5%) hoặc kết hợp trong và ngoài gan (15%). 100% bệnh nhân có đường hầm Kehr hình thành vững chắc. Phần lớn bệnh nhân chỉ cần tán sỏi 1 lần (90%) với số lần tán trung bình là 1,15 ± 0,2 lần. Tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn đạt 92,5%. Không ghi nhận tai biến trong thủ thuật; biến chứng sau mổ gặp 1 trường hợp áp-xe gan (2,5%) đáp ứng tốt với điều trị nội khoa. Thời gian nằm viện sau thủ thuật trung bình là 3,03 ± 1,68 ngày. <em>Kết luận:</em> Nội soi tán sỏi điện thủy lực qua đường hầm Kehr là phương pháp an toàn, ít xâm lấn và đạt hiệu quả sạch sỏi cao đối với bệnh nhân sót sỏi đường mật.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3164Kết quả phẫu thuật u nhầy buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 20252026-10-05T09:23:06+00:00Lại Hoàng ĐạtA@gmail.comNguyễn Tuấn Minhtuanmin0306@gmail.comNguyễn Thị Hà TrangA@gmail.comĐặng Thị Minh NguyệtA@gmail.comTrần Thị Minh TrangA@gmail.com<p><em>Mục tiêu</em>: Việc đưa ra phương pháp phẫu thuật u nhầy buồng trứng tối ưu tại thời điểm chẩn đoán là vô cùng quan trọng. <em>Đối tượng và phương pháp</em>: Nghiên cứu mô tả trên 181 bệnh nhân được phẫu thuật u buồng trứng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2025, có kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật là u nhầy buồng trứng. <em>Kết quả</em>: U nhầy BT được phẫu thuật theo kế hoạch chiếm 95%, phẫu thuật cấp cứu chiếm 5%. Phẫu thuật nội soi chiếm 71,8%. Trong nhóm u lành tính, mổ nội soi cao 81,1%. Trong nhóm u ác tính tỷ lệ mổ mở cao nhất là 88,2%. UBT lành tính, bóc u là 68,3% (p<0,05), Với nhóm bệnh nhân u ác tính chủ yếu là cắt phần phụ + sinh thiết mạc nối lớn (p<0,01). Bệnh nhân mãn kinh đa số các trường hợp là cắt phần phụ 2 bên, chưa mãn kinh bóc u 67,7% (p<0,01). Tỷ lệ tai biến thấp nhưng hậu quả khá nặng nề, có 1 trường hợp chảy máu mổ lại và 3 trường hợp tổn thương ruột.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3165Nhận xét đặc điểm hình ảnh và kết quả vi phẫu kẹp túi phình động mạch não giữa vỡ trên phim cắt lớp vi tính mạch máu não tại Bệnh viện Quân y 1032026-10-05T09:23:15+00:00Nguyễn Thành BắcA@gmail.comTrần Mạnh Quang A@gmail.comNguyễn Xuân Phươngxuanphuong.pttk@gmail.com<p><em>Mục tiêu: </em>Mô tả đặc điểm hình ảnh túi phình động mạch não giữa vỡ trên CTA và đánh giá kết quả vi phẫu kẹp túi phình tại Bệnh viện Quân y 103. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu các trường hợp vỡ phình động mạch não giữa được vi phẫu kẹp túi phình trong thời gian 10/2023 - 10/2024. <em>Kết quả:</em> Đa số các trường hợp có hình ảnh chảy máu dưới màng nhện với 95,8%. Chảy máu nhu mô não ghi nhận trong 26,1% trường hợp chảy máu dưới nhện Fisher II chiếm đa số: 47,8%. Túi phình tại vị trí phân chia M1-M2 chiếm 87%, phần lớn là các túi phình có kích thước 5-10mm chiếm 56,5%. Tỉ lệ túi phình có đường kính cổ ≥ 4mm là 52,2%. Vi phẫu kẹp hết cổ túi phình chiếm 91,4%. <em>Kết luận:</em> Vi phẫu kẹp túi phình là phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn, với tỉ lệ thành công loại bỏ hoàn toàn túi phình đã vỡ cao, qua khảo sát 23 bệnh nhân trên hình ảnh cắt lớp vi tính mạch máu não tại Bệnh viện Quân y 103.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3166Đặc điểm hình thái và mối tương quan giữa lâm sàng với các chỉ số cận lâm sàng trong đánh giá trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ trung niên người Việt2026-10-05T09:23:24+00:00Lê Hữu ĐiềnA@gmail.comHoàng Mạnh NinhA@gmail.comHoàng Tuấn AnhA@gmail.comDương Nguyễn Việt AnhA@gmail.comVũ Văn ĐứcA@gmail.comTrần Hồng NguyênA@gmail.comVũ Ngọc Lâmvungoclamb8@gmail.com<p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá mối tương quan giữa các chỉ số cận lâm sàng với độ sâu trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ trung niên người Việt. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 81 mắt của 41 phụ nữ Việt Nam, từ 40 - 65 tuổi, trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Đặc điểm hình thái được đánh giá qua thăm khám lâm sàng. Diện tích vùng trũng được đo trên ảnh 2D bằng phần mềm ImageJ; thể tích thiếu hụt được xác định trên hình ảnh 3D bằng hệ thống Vectra XT; các chỉ số D1 và D2 được đo bằng siêu âm. <em>Kết quả:</em> Độ sâu trũng là 5,93 ± 0,83mm và chiều cao da trước sụn mi trên là 7,80 ± 2,03mm. Có 75,3% số mắt có chiều cao da trước sụn m ≥ 7mm và 81,5% có tỷ lệ m/N ≥ 1. Hình thái trũng mi trên typ II gặp nhiều nhất, chiếm 40,7%. Có 90,1% số mắt có từ hai nếp mí trở lên; 73,2% người bệnh có nếp mí hai bên không cân đối và 54,3% số mắt có thừa da mi trên mức độ nhẹ. Diện tích vùng trũng là 224,83 ± 66,37mm² và thể tích thiếu hụt là 0,948 ± 0,219mL. Trên siêu âm, giá trị D1 là 0,24 ± 0,09cm và D2 là 0,29 ± 0,10cm. Diện tích vùng trũng, thể tích thiếu hụt và D1 có tương quan thuận với độ sâu trũng, trong khi D2 có tương quan nghịch với độ sâu trũng (p<0,05). <em>Kết luận:</em> Trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ Việt Nam trung niên thường có hình thái typ II, tăng chiều cao da trước sụn, nhiều nếp mí, bất cân xứng nếp mí hai bên và thừa da mi trên. Các chỉ số đo trên ảnh 2D, hình ảnh 3D và siêu âm có mối tương quan với độ sâu trũng, góp phần lượng hóa mức độ thiếu hụt thể tích và những biến đổi mô mềm của mi trên.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3167Tỷ lệ mắc, đặc điểm lâm sàng và nhu cầu điều trị của kém khoáng hóa men răng hàm lớn - răng cửa (MIH) ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình2026-10-05T09:23:32+00:00Bùi Hữu Tuấnbuituan.rhm@gmail.comĐinh Sỹ MạnhA@gmail.comNguyễn Ngọc AnhA@gmail.comNguyễn Thị Thu HiềnA@gmail.comNguyễn Thị XuânA@gmail.comTrần Thị Ngọc HuyềnA@gmail.comNguyễn Văn HạA@gmail.com<p><em>Tổng quan:</em> Kém khoáng hóa men răng hàm lớn - răng cửa (MIH) có thể tồn tại đến tuổi trưởng thành và gây khó khăn trong chẩn đoán, điều trị. <em>Mục tiêu:</em> Xác định tỷ lệ mắc, mô tả đặc điểm lâm sàng và nhu cầu điều trị MIH ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình. <em>Phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1176 sinh viên. <em>Kết quả:</em> Tỷ lệ MIH là 10,9%, chủ yếu ở mức độ trung bình và nặng (81,3%). Trong 217 răng bị MIH, răng hàm lớn thứ nhất chiếm 83,4%; tổn thương men ở nhóm răng này thường vàng/nâu và lan rộng hơn so với răng cửa (p<0,001). Nhu cầu điều trị tăng theo mức độ, từ dự phòng ở nhóm nhẹ đến phục hồi phức tạp ở nhóm nặng. <em>Kết luận:</em> MIH ở sinh viên có tỷ lệ mắc 10,9%, chủ yếu ở mức độ trung bình và nặng. Tổn thương tập trung chủ yếu ở răng hàm lớn thứ nhất và nhu cầu điều trị tăng theo mức độ tổn thương.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3168Đặc điểm đường cong lệch tiêu của một số loại thể thủy tinh nhân tạo2026-10-05T09:23:40+00:00Bùi Thị Vân AnhA@gmail.comNguyễn Thu Trangnguyenthutrang1311@gmail.comTạ Tuệ AnhA@gmail.comBùi Việt HưngA@gmail.com<p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá khoảng nhìn rõ của bệnh nhân sau phẫu thuật phaco đặt thể thủy tinh nhân tạo bằng sử dụng đường cong lệch tiêu. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu được thực hiện trên 99 mắt của 62 bệnh nhân đã phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, trong đó có 28 nam, 34 nữ, với độ tuổi trung bình là 67,89 (±23,11) tuổi. Các loại thể thủy tinh nhân tạo được khảo sát bao gồm: SN60WF (n=28), DFT15 (n=19), ICB00 (n=18), ATLISA 809MP (n=17), ATLISA TRI 839MP (n=17). Đường cong lệch tiêu được đo cho từng mắt, được thu thập trong khoảng từ -3.50D đến +2.00D với bước nhảy 0.5D. Thị lực chỉnh kính tối đa được đo bằng bảng EDTRS đặt ở khoảng cách 3,12m. <em>Kết quả:</em> Xét trên thị lực tốt hơn 0.3 logMar, đường cong lệch tiêu của SN60WF có khoảng thị lực tốt nhất từ -0.50D đến 0.50D tương đương với khoảng cách xa, càng về trung gian và gần, thị lực càng giảm mạnh. Đường cong lệch tiêu của ICB00 có khoảng thị lực tốt nhất từ -0.750D đến 0.750D tương đương với khoảng cách xa kéo dài nhẹ đến trung gian, nhưng giảm mạnh ở khoảng gần. Đường cong lệch tiêu của DFT15 có khoảng thị lực tốt nhất từ -1.750D đến 0.50D, tương đương với khoảng cách xa kéo dài về trung gian. Đường cong lệch tiêu của ATLISA 809MP chia hai pha có hai khoảng thị lực tốt nhất ở -3.50D và từ -1.00D đến 0.60D; đường cong lệch tiêu của ATLISA TRI 839MP chia 2 pha có khoảng thị lực tốt nhất từ -3.50D đến -2.50D và từ -1.75 tới 0.75D tương đương với khoảng nhìn từ gần đến xa. <em>Kết luận:</em> Đường cong lệch tiêu phản ánh khoảng nhìn rõ tương ứng với từng loại IOL sau khi người bệnh được phẫu thuật thay thể thủy tinh. Kính nội nhãn Vivity và AT Lisa Tri có thể chỉ định cho bệnh nhân cần hầu hết các khoảng nhìn. Kính nội nhãn AT Lisa 809 và Technis Eyhance chỉ định phù hợp cho bệnh nhân cần nhìn xa và trung gian xa. Kính IQ Acrysoft phù hợp cho bệnh nhân cần nhìn xa.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3170Giá trị các chuỗi xung trên cộng hưởng từ 3.0 Tesla trong đánh giá tổn thương đám rối thần kinh cánh tay sau hạch do chấn thương tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 2026-10-05T09:23:48+00:00Nguyễn Văn SơnA@gmail.comLê Thanh DũngA@gmail.comTrần Quang LộcA@gmail.comTạ Đình VănA@gmail.comNguyễn Phương AnhA@gmail.comĐinh Việt KhôiA@gmail.comNguyễn Đắc NguyênA@gmail.comTô Tuấn LinhA@gmail.comTô Tuấn LinhA@gmail.comNguyễn Thị Hương GiangA@gmail.comNguyễn Hồng LoanA@gmail.comTạ Văn Mạnhvanmanh274.ump@gmail.com<p><em>Mục tiêu:</em> Đánh giá giá trị các chuỗi xung trên cộng hưởng từ 3.0 Tesla trong chẩn đoán và phân loại tổn thương đám rối thần kinh cánh tay sau hạch do chấn thương. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Mô tả cắt ngang, thực hiện trên 50 bệnh nhân có tiền sử chấn thương chụp cộng hưởng từ 3.0T với protocol 4 chuỗi xung T1W Coronal, T2W Sagittal, 3D Axial T2 HSCUBE, 3D STIR Coronal. Phân tích đặc điểm lâm sàng, hiệu quả các chuỗi xung với bệnh nhân điều trị ngoại khoa và nội khoa, xử lý số liệu với SPSS 20.0. <em>Kết quả:</em> Trong 50 bệnh nhân, chủ yếu là nam giới ( nam/nữ là 9/1), đa số từ 20-40 tuổi (46%), chủ yếu tai nạn giao thông (78%). Dấu hiệu dạng vai và gấp khuỷu có tỷ lệ cao nhất (20,3%). Chuỗi xung 3D STIR Coronal đạt hiệu quả cao nhất trong chẩn đoán: nhóm điện cơ (+) có độ nhạy 95,2%, độ đặc hiệu 73%, độ chính xác 87%, trong khi nhóm điện cơ (-) đạt 92,9%, 37%, 65,5%. <em>Kết luận: </em>Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ 3.0T có vai trò quan trọng trong đánh giá vị trí, hình thái, mức độ tổn thương đám rối thần kinh cánh tay sau hạch đặc biệt là chuỗi xung 3D STIR Coronal kết hợp chặt chẽ với điện cơ, lâm sàng từ đó giúp phân loại và có phương hướng điều trị hiệu quả.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3171Phân tích các biến đổi phân tử của CDKN2A và mối liên quan đến biểu hiện gen trong ung thư phổi không tế bào nhỏ2026-10-05T09:23:56+00:00Trần Thanh BìnhA@gmail.comNguyễn Văn KhôiA@gmail.comTrần Thị Thu Huyềntranthuhuyen.cnsh@gmail.com<p class="ghichu"><span lang="EN-US">CDKN2A là gene ức chế khối u quan trọng thường bị bất thường trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) thông qua methyl hóa promoter, đột biến gene và biến đổi số lượng bản sao (CNV). Dữ liệu methyl hóa DNA, biểu hiện mRNA, đột biến gene, CNV và thông tin lâm sàng của 831 bệnh nhân NSCLC (459 trường hợp ung thư biểu mô tuyến phổi và 372 trường hợp ung thư biểu mô vảy phổi) được phân tích tích hợp. Kết quả cho thấy mất đoạn sâu có mối liên quan mạnh nhất với giảm biểu hiện mRNA CDKN2A (log2 (raw STAR count + 1)), với trung vị giảm từ 9,86 xuống 4,91 và mức giảm rõ rệt hơn ở ung thư biểu mô vảy phổi so với ung thư biểu mô tuyến phổi. Ngược lại, đột biến CDKN2A không liên quan đến giảm biểu hiện mRNA tương ứng. Tóm lại, các biến đổi phân tử của CDKN2A có mối liên quan khác nhau với mức biểu hiện mRNA trong NSCLC, trong đó mất đoạn sâu liên quan mạnh nhất với giảm biểu hiện CDKN2A và rõ rệt hơn ở LUSC so với LUAD.</span></p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3172Nghiên cứu bào chế phytosome chứa hoạt chất chiết xuất từ Nhục thung dung (Herba cistanches) 2026-10-05T09:24:07+00:00Bùi Thị Thu HàA@gmail.comNguyễn Văn ThịnhA@gmail.comNguyễn Văn LongA@gmail.comBùi Thị Bích VânA@gmail.comVũ Tuấn AnhA@gmail.comTrần Bá Hiếumanhhieu86@yahoo.com<p><em>Mục tiêu</em>: Bào chế và đánh giá được một số đặc tính của phytosome chứa hoạt chất chiết xuất từ Nhục thung dung (phytosome NTD). <em>Đối tượng và phương pháp</em>: Sử dụng phương pháp bốc hơi dung môi và phương pháp sấy đông khô để bào chế phytosome NTD. Các chỉ tiêu hiệu suất tạo phức, kích thước tiểu phân, chỉ số đa phân tán được dùng để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng: nồng độ Ethanol, lượng dung môi, tỷ lệ cao NTD/ Lecithin, nhiệt độ phản ứng, thời gian phản ứng. Một số đặc tính của phytosome như hình thái, kích thước tiểu phân, chỉ số đa phân tán, thế zeta, phân tích phổ hồng ngoại FTIR, phân tích nhiệt vi sai và hệ số phân bố dầu nước cũng được khảo sát. <em>Kết quả</em>: Với sự hỗ trợ của siêu âm tần số 37 kHz, phytosome NTD được bào chế với các thông số sau: Tỷ lệ khối lượng cao NTD/lecithin là 1/1; dung môi phản ứng là EtOH 40%; tỷ lệ chất rắn/ dung môi là 1/50; nhiệt độ phản ứng là 70°C; thời gian phản ứng là 4 giờ. Phytosome có dạng hình cầu với kích thước tiểu phân <200 nm, chỉ số đa phân tán < 0,3, thế zeta khoảng -25,77mV, hiệu suất tạo phức khoảng 75%. <em>Kết luận</em>: Bào chế thành công phytosome NTD và đánh giá được một số đặc tính của phytosome NTD.</p>2026-09-30T00:00:00+00:00Copyright (c)