https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/issue/feed Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy 2026-10-23T08:57:47+00:00 PHÒNG KHOA HỌC QUÂN SỰ tapchi108@gmail.com Open Journal Systems https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3186 Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc kháng vitamin K trên bệnh nhân điều trị ngoại trú bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn 2024-2025 2026-10-23T08:09:29+00:00 Phạm Văn Huy A@gmail.com Công Thị Huyền Thư A@gmail.com Nguyễn Khánh Huyền A@gmail.com Lê Thị Mỹ A@gmail.com Phạm Thị Hạnh A@gmail.com Nguyễn Thị Liên Hương A@gmail.com Nguyễn Đức Trung A@gmail.com Nguyễn Thị Thu Thủy thuyntt@hup.edu.vn <p><span class="s18"><span class="bumpedFont17">Nghiên cứu mô tả, hồi cứu dọc thực hiện trên 102 bệnh nhân ngoại trú được kê đơn thuốc kháng vitamin K bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn 2024</span></span> <span class="s18"><span class="bumpedFont17">-</span></span> <span class="s18"><span class="bumpedFont17">2025 nhằm khảo sát đặc điểm kê đơn và hiệu quả điều trị chống đông. Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 68,2 ± 11,2, chỉ định rung nhĩ chiếm 63,7%. Có 69,7% bệnh nhân c</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">huyển đổi giữa nhóm VKA và DOAC</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> trong quá trình điều trị chống đông. Liều acenocoumarol tuần trung bình ở mức thấp (</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">8,9 ± 6,2</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">mg). Về thực hành chỉnh liều, </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">phác đồ được ưu tiên giữ ổn định k</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">hi INR dao động nhẹ (&lt; 0,5 đơn vị) so với đích; tỷ lệ giữ nguyên liều khi INR lệch sâu (&gt; 0,5 đơn vị) ngoài khoảng điều trị còn cao (63,8% lượt dưới ngưỡng và 46,7% lượt trên ngưỡng). Biên độ tăng liều trung bình là 36,8 ± 33,9% và giảm liều là 25,7 ± 22,5%. Kết quả điều trị cho thấy chỉ số TTR% trung bình đạt</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> 25,5 ± 25,9%; tỷ lệ kiểm soát tốt là 6</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">,</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">5%.</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> Khi đánh giá theo ngưỡng điều trị mở rộng, hiệu quả kiểm soát đạt tích cực hơn với e-TTR% là 38,3 ± 34,5%; tỷ lệ kiểm soát tốt là 29%. Nghiên cứu kết luận công tác quản lý điều trị VKA ngoại trú vẫn ở dưới mức tối ưu và cần tiếp tục cải thiện một cách hệ thống thông qua chuẩn hóa </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">quy trình kê đơn và giám sát điều trị VKA, song song với</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> việc thí điểm mô hình phòng khám kháng đông chuyên biệt &nbsp;kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3195 Phân bố carbapenemase và phác đồ kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm Klebsiella spp. kháng carbapenem 2026-10-23T08:09:57+00:00 Nguyễn Duy Tám A@gmail.com Vũ Minh Anh A@gmail.com Nguyễn Đức Trung A@gmail.com Trần Thị Hồng Ninh A@gmail.com Hoàng Thị Mỹ Hoa A@gmail.com Lê Đình Son A@gmail.com Bùi Thanh Thuyết A@gmail.com Nguyễn Thị Kim Phương A@gmail.com Nguyễn Thị Thu Thủy thuyntt@hup.edu.vn <p>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 78 bệnh nhân nhiễm khuẩn do <em>Klebsiella</em>&nbsp;spp. kháng carbapenem (CRK) có test carbapenemase dương tính tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2025 đến 06/2026 nhằm khảo sát đặc điểm vi sinh, phân bố <em>men</em> carbapenemase và thực trạng sử dụng kháng sinh. Kết quả cho thấy bệnh nhân chủ yếu điều trị tại khoa hồi sức tích cực (73,1%) và nhiễm khuẩn hô hấp chiếm ưu thế (60,0%). Có 55,1% chủng mang một loại men và 44,9% mang ≥ 2 loại men. Tổ hợp OXA-48-like + NDM chiếm cao nhất (42,3%), tiếp theo là OXA-48-like đơn độc (35,9%). Men metallo-beta-lactamase (MBL) chiếm 50,0%. Các chủng CRK phân lập được có tỷ lệ nhạy cảm cao nhất với amikacin (78,9%), ceftazidim/avibactam (33,9%) và hơn 80% trung gian với colistin. Sau khi trả kết quả test men, 74,4% bệnh nhân được điều chỉnh phác đồ (trung bình sau 1,3 ngày); tỷ lệ dùng ceftazidim/avibactam tăng từ 12,8% lên 55,1%, aztreonam tăng từ 1,3% lên 12,8%, trong khi meropenem giảm từ 52,6% xuống 26,9%. Nhóm sinh MBL được chỉ định aztreonam (25,6%) và colistin (28,2%) nhiều hơn nhóm không sinh MBL. Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả điều trị ra viện cải thiện (khỏi, đỡ/giảm) đạt 70,5%. Như vậy, nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ CRK sinh MBL tại bệnh viện ở mức cao (50,0%). Test định men nhanh carbapenemase giúp điều chỉnh kịp thời phác đồ kháng sinh trúng đích (như phối hợp ceftazidim/avibactam và aztreonam cho nhóm sinh MBL), nâng cao hiệu quả điều trị và tối ưu hóa quản lý sử dụng kháng sinh.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3206 Xây dựng bộ chỉ số chất lượng quản lý hen phế quản ngoại trú tại Việt Nam dựa trên tổng quan hệ thống và đồng thuận chuyên gia 2026-10-23T08:10:23+00:00 Cao Thị Bích Thảo A@gmail.com Phạm Thị Thúy Vân A@gmail.com Phạm Trang Nhung A@gmail.com Nguyễn Tứ Sơn sonnt@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Xây dựng bộ chỉ số chất lượng quản lý hen phế quản ngoại trú dựa trên bằng chứng và phù hợp với thực hành tại Việt Nam. <em>Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Nghiên cứu gồm bốn bước: 1) Tổng quan hệ thống các nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2025 để xác định các chỉ số tiềm năng; 2) Đối sánh với các khuyến cáo của Bộ Y tế và GINA nhằm xây dựng bộ chỉ số dự thảo; 3) Đánh giá tính phù hợp và tính cần thiết của từng chỉ số với&nbsp;sự tham gia của 9 chuyên gia đa ngành (6 bác sĩ hô hấp và 03 dược sĩ lâm sàng); và 4) Hoàn thiện bộ chỉ số. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Tổng quan hệ thống lựa chọn 16 nghiên cứu, trích xuất 164 chỉ số tiềm năng. Sau quá trình sàng lọc và đối sánh với các hướng dẫn điều trị, 26 chỉ số được đưa vào bộ chỉ số dự thảo. Trong số 26 chỉ số dự thảo, 25 chỉ số đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn qua đánh giá chuyên gia; 1 chỉ số được giữ lại sau khi nhóm nghiên cứu xem xét bổ sung trên cơ sở tính cần thiết và sự phù hợp với hướng dẫn điều trị. Bộ chỉ số cuối cùng gồm 26 chỉ số, gồm 5 lĩnh vực: Đánh giá và phân loại (3 chỉ số), biện pháp dùng thuốc (13), biện pháp không dùng thuốc (3), quản lý đợt cấp (1) và theo dõi bệnh nhân (6). <em>Kết luận:</em>&nbsp;Bộ 26 chỉ số được xây dựng trên cơ sở bằng chứng và đồng thuận chuyên gia, là công cụ tiềm năng để đánh giá, giám sát và cải thiện chất lượng quản lý hen phế quản ngoại trú tại Việt Nam.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3211 Phân tích chi phí - hiệu quả của việc bổ sung dapagliflozin vào điều trị thường quy ở người bệnh suy tim phân suất tống máu bảo tồn tại Việt Nam 2026-10-23T08:10:52+00:00 Kiều Thị Tuyết Mai maikieu0210@gmail.com Lê Thanh Minh Phương A@gmail.com Vũ Thùy Dương A@gmail.com Phạm Hoài Thanh Vân A@gmail.com Lê Hồng Minh A@gmail.com <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Đánh giá chi phí - hiệu quả của việc bổ sung dapagliflozin vào điều trị thường&nbsp;quy&nbsp;so với điều trị thường&nbsp;quy đơn thuần ở người bệnh suy tim phân suất tống máu bảo tồn (STPSTMBT) tại Việt Nam.<em>&nbsp;Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Phân tích được thực hiện trên quan điểm cơ quan chi trả, sử dụng mô hình Markov dựa trên bốn tứ phân vị thang điểm KCCQ-TSS, với chu kỳ một tháng và khung thời gian trọn đời. Dữ liệu về hiệu quả, an toàn và chất lượng cuộc sống được thu thập từ các nghiên cứu đã công bố trước đó. Phân tích độ nhạy được thực hiện nhằm đánh giá tính ổn định của kết quả. <em>Kết quả:</em>&nbsp;So với điều trị thường&nbsp;quy&nbsp;đơn thuần, bổ sung dapagliflozin làm tăng chi phí thêm 34,6 triệu đồng/người bệnh, chủ yếu do chi phí thuốc, nhưng được bù đắp một phần bởi giảm chi phí liên quan đến biến cố cấp tính, tử vong và biến cố bất lợi. Về hiệu quả, dapagliflozin mang lại thêm 0,3147 QALY. ICER ước tính là 109,9 triệu đồng/QALY, thấp hơn ngưỡng sẵn sàng chi trả tại Việt Nam (342 triệu đồng/QALY). Kết quả phân tích độ nhạy cho thấy ICER ổn định trước biến thiên của các tham số đầu vào. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Bổ sung dapagliflozin vào phác đồ điều trị thường&nbsp;quy&nbsp;là lựa chọn đạt chi phí - hiệu quả trong quản lý STPSTMBT tại Việt Nam.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3212 Thực trạng sử dụng amikacin tại các khoa hồi sức, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: chế độ liều theo chức năng thận và tình trạng lọc máu 2026-10-23T08:11:47+00:00 Lê Thị Mỹ A@gmail.com Phạm Văn Huy A@gmail.com Nguyễn Trung Hà A@gmail.com Tống Thanh Huyền A@gmail.com Nguyễn Khánh Huyền A@gmail.com Lê Minh Hồng A@gmail.com Hồ Sỹ Đông A@gmail.com Nguyễn Thị Liên Hương A@gmail.com Lê Bá Hải hailb@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Khảo sát thực trạng sử dụng amikacin tại các khoa Khoa Hồi sức (ICU) Bệnh viện TWQĐ 108, đồng thời so sánh liều dùng ở bệnh nhân không lọc và có lọc máu. <em>Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành thu thập dữ liệu hồi cứu trên toàn bộ bệnh nhân nội trú tại các khoa ICU có sử dụng amikacin đường tĩnh mạch từ 01/01/2025 đến 30/6/2025. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Nghiên cứu ghi nhận 223 bệnh nhân có độ thanh thải creatinin (CrCl) trung vị là 53,3 mL/phút. Amikacin được chỉ định chủ yếu trong điều trị viêm phổi (52,9%) và sốc nhiễm khuẩn (45,3%). Bệnh nhân có tình trạng bệnh nặng với điểm SOFA trung bình là 9,8; tỷ lệ thở máy chiếm 78,5% và có 49 bệnh nhân (22,0%) phải lọc máu liên tục (CRRT). Trong số 385/991 mẫu bệnh phẩm vi sinh dương tính, vi khuẩn Gram âm chiếm 82,8%, phổ biến nhất là <em>Acinetobacter baumannii</em>&nbsp;và <em>Klebsiella pneumoniae</em>. Tỷ lệ nhạy cảm với amikacin của <em>Escherichia coli</em>&nbsp;và <em>Klebsiella pneumoniae</em>&nbsp;còn khá tốt, đạt lần lượt 92,1% và 61,5%. Amikacin chủ yếu được chỉ định theo kinh nghiệm (84,7%) với thời gian điều trị trung vị là 9 ngày. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về liều khởi đầu của amikacin giữa nhóm không lọc máu và nhóm lọc máu (lần lượt là 14,7mg/kg so với 14,3mg/kg; p=0,37). Liều dùng amikacin có tương quan thuận mức độ yếu - trung bình với CrCl ở nhóm không lọc máu (r = 0,344, p&lt;0,001), trong khi chưa ghi nhận tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê ở nhóm lọc máu. Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng lâm sàng ổn định khi ra viện đạt 74,5%. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Tại các khoa Hồi sức, amikacin chủ yếu được chỉ định theo kinh nghiệm trên nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng nhưng liều khởi đầu trung bình (14,3 - 14,7mg/kg) còn thấp hơn so với các khuyến cáo hiện hành cho bệnh nhân hồi sức tích cực. Bên cạnh đó, chế độ liều chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm bệnh nhân có và không lọc máu liên tục. Kết quả này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng hướng dẫn chuẩn hóa chế độ liều amikacin theo chức năng thận và tình trạng lọc máu tại đơn vị, hướng tới tối ưu hóa và cá thể hóa liều dùng trên bệnh nhân nặng.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3213 Thực trạng quản lý thuốc điều trị bệnh mạn tính trước phẫu thuật ở người bệnh phẫu thuật theo chương trình tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-10-23T08:12:39+00:00 Đinh Thị Lan Anh A@gmail.com Nguyễn Thị Hải Yến A@gmail.com Đỗ Thị Thủy A@gmail.com Đồng Thị Xuân Phương A@gmail.com Nguyễn Đức Trung A@gmail.com Lương Thị Thanh Huyền A@gmail.com Nguyễn Thị Xuân A@gmail.com Nguyễn Thị Liên Hương huongntl@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Mô tả thực trạng khai thác, ghi nhận, tiếp nối và đánh giá tính phù hợp của quyết định quản lý thuốc điều trị bệnh mạn tính trước phẫu thuật ở người bệnh phẫu thuật theo chương trình tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. <em>Đối tượng và phương pháp</em><em>:</em>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trong&nbsp;tháng 11/2025 tại Viện Phẫu thuật Tiêu hóa và Viện Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng nghiên cứu là người bệnh nội trú ≥&nbsp;18 tuổi có chỉ định phẫu thuật theo chương trình và sử dụng ít nhất một thuốc điều trị bệnh mạn tính trước nhập viện. Danh mục tiền sử sử dụng thuốc tốt nhất có thể (Best Possible Medication History - BPMH) được xây dựng từ phỏng vấn người bệnh/người nhà kết hợp với rà soát hồ sơ bệnh án và các nguồn thông tin liên quan. Tính phù hợp của quyết định quản lý thuốc trước phẫu thuật được đánh giá theo bộ tiêu chí chuẩn hóa xây dựng trên cơ sở các hướng dẫn và khuyến cáo chuyên môn hiện hành. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Có 286 người bệnh được đưa vào phân tích, với tuổi trung vị 69 (28&nbsp;- 93) tuổi; nam giới chiếm 58,7%. Ghi nhận tổng cộng 1.280 lượt thuốc điều trị bệnh mạn tính, trung bình 4,5 lượt thuốc/người bệnh. Mặc dù tất cả người bệnh đều được khai thác tiền sử dùng thuốc, chỉ 75,2% có thông tin thuốc được ghi nhận trong bệnh án và 31,0% lượt thuốc được ghi chép đầy đủ. Có 49,0% lượt thuốc không được tiếp nối trong y lệnh; 88,1% người bệnh thiếu tiếp nối ít nhất một thuốc, với trung bình 3,09 ± 1,83 thuốc/người bệnh. Trong số 653 lượt thuốc có quyết định quản lý trước phẫu thuật, chỉ 326 lượt thuốc (49,9%) được xử trí phù hợp theo bộ tiêu chí chuẩn hóa; 95,8% người bệnh có ít nhất một lượt thuốc được xử trí chưa phù hợp. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Quản lý thuốc điều trị bệnh mạn tính trước phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 còn tồn tại nhiều hạn chế. 75,2% số người bệnh được ghi chép thông tin tiền sử dùng thuốc trong bệnh án, 31,0% số lượt thuốc được ghi chép đầy đủ. 49,0% số lượt thuốc không được tiếp nối trong y lệnh, 88,1% số người bệnh thiếu tiếp nối ít nhất một thuốc, trung bình mỗi người bệnh có 3,09 ± 1,83 lượt thuốc thiếu tiếp nối. Khi đánh giá theo bộ công cụ chuẩn hóa, tỷ lệ lượt thuốc được xử trí phù hợp trước phẫu thuật là 49,9%, 95,8% số trường hợp có ít nhất một lượt thuốc được xử trí chưa phù hợp.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3218 Phân tích sử dụng kháng sinh dự phòng trên bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà 2026-10-23T08:13:07+00:00 Nguyễn Thị Hồng Hạnh A@gmail.com Ngọ Thị Nga A@gmail.com Trần Cát Khánh A@gmail.com Đặng Việt Dũng A@gmail.com Lê Bá Hải A@gmail.com Nguyễn Thành Hải A@gmail.com <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Mô tả đặc điểm sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trên bệnh nhân được phẫu thuật mổ lấy thai tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà. <em>Đối tượng và phương pháp</em><em>:</em>&nbsp;Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân (BN) được chỉ định phẫu thuật mổ lấy thai tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà từ &nbsp;01/8/2023 đến 31/7/2024. Tiêu chuẩn lựa chọn là BN được kê đơn kháng sinh trong khi nằm viện và không có chẩn đoán nhiễm khuẩn trước phẫu thuật. <em>Kết quả</em>: Có 242 BN đạt tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu. Trung vị độ tuổi của BN trong nghiên cứu là 28 tuổi (23 - 33), chủ yếu được chỉ định mổ lấy thai do có vết mổ đẻ cũ (54,1%). 98,3%&nbsp;BN được sử dụng kháng sinh trong vòng 1 giờ trước rạch da, trong đó 82,2% được dùng cefazolin. 67,0% được dừng kháng sinh trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật; 32,2% BN có dùng kháng sinh kéo dài từ 5 ngày trở lên sau phẫu thuật. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến việc kéo dài thời gian sử dụng kháng sinh là tiền sử và số lần mổ đẻ, mổ cấp cứu, điểm ASA ≥ 3, bất thường ối, thai phụ có bệnh mắc kèm, mổ lấy thai kết hợp các thủ thuật khác, và vết mổ đẻ cũ dính. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Tỷ lệ sử dụng KSDP phù hợp theo tiêu chí ASHP tại Trung tâm ở mức khá cao. Tuy nhiên, cần cập nhật hướng dẫn KSDP để tối ưu hóa việc dùng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3220 Hiệu quả bước đầu của aztreonam kết hợp ceftazidime/avibactam trong điều trị nhiễm khuẩn do Enterobacterales toàn kháng: Nghiên cứu hồi cứu có so sánh với phác đồ chứa colistin tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-10-23T08:13:33+00:00 Hồ Sỹ Đông A@gmail.com Nguyễn Sỹ Thấu A@gmail.com Trần Thị Khánh Huyền A@gmail.com Nguyễn Duy Tám A@gmail.com Phạm Đăng Hải A@gmail.com Ngô Đình Trung A@gmail.com Nguyễn Văn Tuấn A@gmail.com Nguyễn Trọng Thế nguyen.trong.the@benhvien108.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Đánh giá đáp ứng lâm sàng, vi sinh, và tác dụng không mong muốn lên thận của phác đồ aztreonam - ceftazidime/avibactam (AZT+CAZ-AVI) so với phác đồ dựa trên colistin ở bệnh nhân (BN) nhiễm khuẩn do <em>Enterobacterales</em>&nbsp;toàn kháng (pan-drug-resistant <em>Enterobacterales,</em>&nbsp;PDR-E) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn từ tháng 10/2025 đến tháng 5/2026. <em>Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Hồi cứu tất cả BN nhiễm PDR-E và được điều trị bằng phác đồ AZT+CAZ-AVI hoặc phác đồ chứa colistin ít nhất 72 giờ. Tại thời điểm kết thúc điều trị của phác đồ đích (EoT), đáp ứng vi sinh nếu ít nhất có một lần cấy khuẩn ở cơ quan đích âm tính sau khi khởi trị, thất bại lâm sàng là trường hợp tử vong/xin về liên quan nhiễm trùng hoặc được chỉ định kháng sinh thay thế liên quan đến nhiễm trùng không thoái lui. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Tổng 35 BN nhiễm PDR-E được sử dụng AZT+CAZ-AVI (n = 16), hoặc phác đồ chứa colistin (n = 19). Đặc điểm nhiễm trùng trong nhóm AZT+CAZ-AVI gồm: 13 chủng <em>K. pneumoniae </em>(81,2%) và 03 chủng <em>E. coli</em>&nbsp;(18,8%); Có 14/14 (100%) chủng mang NDM; Vị trí nhiễm trùng gồm phổi (08; 50,0%), nhiễm khuẩn huyết (04; 25,0%), tiết niệu (03; 18,8%) và ổ bụng (01; 6,2%). Nhóm AZT+CAZ-AVI và colistin có sự tương đồng về mầm bệnh, ổ nhiễm trùng, và bệnh nền (Charlson Comorbidity Index: 2,0 (2,0 - 3,7) và 3,0 (2,0 - 5,0); p=0,23). Mặc dù nhóm AZT+CAZ-AVI có điểm SOFA cao hơn (4,0 (2,2 - 12,5) so với 0,0 (0,0 - 2,0); p=0,001), tỷ lệ thất bại lâm sàng có xu hướng thấp hơn (20,0% so với 42,1%, p=0,27). Trong số BN theo dõi được vi sinh, tỷ lệ đáp ứng vi sinh có xu hướng cao hơn ở nhóm AZT+CAZ-AVI (11/12 (91,7%) so với 7/9 (77,8%), p=0,55). Tổn thương thận cấp cao hơn ở nhóm colistin (36,8% so với 14,3%, p=0,04).&nbsp;<em>Kết luận:</em>&nbsp;AZT+CAZ-AVI có hiệu quả lâm sàng và vi sinh trong điều trị nhiễm khuẩn do <em>Enterobacterales</em>&nbsp;toàn kháng, đồng thời ít gây tổn thương trên thận so với phác đồ chứa colistin.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3224 Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc giảm đau trên bệnh nhân sau phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-10-23T08:14:00+00:00 Nguyễn Trung Hà A@gmail.com Lê Thị Mỹ A@gmail.com Phạm Thị Ngân A@gmail.com Nguyễn Thị Kim Thanh A@gmail.com Phạm Khánh Linh A@gmail.com Nguyễn Tứ Sơn sonnt@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc giảm đau (DRP) trên bệnh nhân (BN) sau phẫu thuật tại Khoa Chấn thương và Chỉnh hình tổng hợp. <em>Đối tượng và</em>&nbsp;<em>phương pháp:</em>&nbsp;Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 140 BN phẫu thuật từ 11/02/2025 đến 18/03/2025. Sử dụng thang mức độ đau bằng số (NRS) và phân tích DRP theo PCNE. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Nam giới chiếm 64%, BN &gt;60 tuổi chiếm 43%. Trong ngày đầu sau mổ, 100% BN được dùng thuốc giảm đau. Paracetamol uống và celecoxib là các thuốc ngoại vi được dùng nhiều nhất. Phác đồ phối hợp 4 thuốc/phương pháp chiếm ưu thế trong ngày đầu (41%). Tỷ lệ đau nặng giảm từ 37% ở ngày 1 xuống 0% ở ngày 5 sau phẫu thuật. Tỷ lệ DRP trung bình trên một bệnh nhân cao nhất vào ngày 1 (1,51 DRPs/BN) và giảm dần còn 0,02 vào ngày 5. Nguyên nhân DRP phổ biến nhất là liều thấp (31%) và tần suất dùng chưa đủ (31%), chủ yếu liên quan đến paracetamol. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Thực hành giảm đau tại khoa đã giúp giảm mức độ đau theo thời gian nhưng cần tối ưu hóa liều lượng và tần suất sử dụng thuốc để hạn chế các DRP.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3187 Hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng trong quản lý sử dụng linezolid tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-10-23T08:14:28+00:00 Đặng Thị Thủy A@gmail.com Ngô Thị Xuân Thu A@gmail.com Lê Bá Hải A@gmail.com Nguyễn Thị Liên Hương A@gmail.com Bùi Thị Bích Hường A@gmail.com Nguyễn Thị Kim Phương A@gmail.com Nguyễn Thị Kim Dung A@gmail.com Nguyễn Đặng Phương Anh A@gmail.com Nguyễn Đức Trung A@gmail.com <p><span class="s15"><span class="bumpedFont17">Mục tiêu</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17">:</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17"> Đánh giá hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng trong quản lý sử dụng linezolid sau khi triển khai Hướng dẫn sử dụng linezolid (LNZ) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. </span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17">Đối tượng và phương pháp</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17">:</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17"> Nghiên cứu can thiệp trước</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">sau trên bệnh nhân nội trú được chỉ định linezolid. Việc đánh giá dựa trên sử dụng trên 322 bệnh nhân hồi cứu trong năm 2024 và 71 bệnh nhân sau can thiệp có phiếu yêu cầu sử dụng linezolid và can thiệp dược lâm sàng. </span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17">Kết quả và kết luận:</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17"> Với 71/94 bệnh nhân có phiếu yêu cầu sử dụng linezolid đều được duyệt bởi dược sĩ lâm sàng</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17"> trước khi sử dụng. </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Can thiệp dược lâm sàng giúp tăng rõ rệt tỷ lệ chỉ định thuốc phù hợp: từ 38,51% lên 82,69% và tăng chỉ định ưu tiên theo HDSD </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">t</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">ừ 53,11% lên 80,77%</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">, </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">tỷ lệ lệ sử dụng LNZ thay thế vancomycin/teicopla</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">nin từ 8,73% lên 19,23% với p&lt;</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">0,05</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">. Ở giai đoạn hồi cứu có </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">10,56</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">% kê đơn không có trong hướng dẫn sử dụng, ở giai đoạn tiến cứu tỷ lệ này chỉ còn 1,9</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">2</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">%.</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17"> Tất cả các tương tác nghiêm trọng đều được phát hiện và can thiệp với tỷ lệ chấp thuận. Trong đó, các can thiệp chuyển thuốc dùng cùng được bác sĩ chấp thuận 100%. </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Kết quả cho thấy chương trình quản lý linezolid thông qua hoạt động dược lâm sàng là giải pháp khả thi, góp phần nâng cao chất lượng sử dụng kháng sinh và hỗ trợ chương trình quản lý sử dụng kháng sinh.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3188 Đánh giá tính khả thi của mô hình định lượng vancomycin tập trung phục vụ giám sát nồng độ thuốc tại một số bệnh viện tỉnh Phú Thọ 2026-10-23T08:49:24+00:00 Phan Vũ Thu Hà A@gmail.com Nguyễn Thị Liên Hương A@gmail.com Nguyễn Thành Hải A@gmail.com Lê Bá Hải A@gmail.com Vũ Dương Anh Minh A@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Thêu A@gmail.com Lê Na A@gmail.com Nguyễn Tiến Đoàn A@gmail.com Đinh Đức Thành A@gmail.com Lê Hữu Trường A@gmail.com Đỗ Thị Minh Nguyệt A@gmail.com Trần Minh Khánh khanhtm.ytpt@gmail.com <p><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Mục tiêu:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> Đánh giá tính khả thi của mô hình định lượng vancomycin tập trung trong triển khai giám sát nồng độ thuốc trong điều trị (TDM) tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.</span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Đối tượng và phương pháp:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện tại 03 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Các bệnh viện tham gia thực hiện lựa chọn người bệnh, lấy và bảo quản mẫu máu theo quy trình thống nhất; mẫu được vận chuyển đến trung tâm định lượng để xác định nồng độ vancomycin. Kết quả định lượng được kết hợp với thông tin về chế độ liều và đặc điểm người bệnh để ước tính AUC₂₄ bằng phương pháp Bayesian và đưa ra khuyến cáo hiệu chỉnh liều khi cần thiết. Các chỉ tiêu chính gồm tỷ lệ mẫu đạt yêu cầu, thời gian trả kết quả, khả năng phiên giải và đưa ra khuyến cáo, mức độ thực hiện khuyến cáo và khả năng đạt đích AUC₂₄ 400</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> - 600</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">mg</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">.</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">giờ/L.</span></span> <span class="s16"><span class="bumpedFont17">Kết quả:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> Nghiên cứu ghi nhận 193 người bệnh với khoảng 400 lượt định lượng vancomycin. Tất cả các mẫu được đưa vào phân tích đều đạt yêu cầu định lượng. Thời gian trung vị từ lấy mẫu đến có kết quả là 1,19 giờ tại trung tâm định lượng, 4,25 giờ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ và 3,79 giờ tại Trung tâm Y tế khu vực Thanh Thủy. Tỷ lệ mẫu có kết quả trong vòng 24 giờ đạt trên 94% tại các cơ sở gửi mẫu. Tỷ lệ đạt đích AUC₂₄ ở lần TDM đầu tiên dao động từ 38,4% đến 52,4% và tăng lên 56,4%–72,7% ở những người bệnh được đánh giá lại sau hiệu chỉnh liều.</span></span> <span class="s16"><span class="bumpedFont17">Kết luận:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> Mô hình định lượng vancomycin tập trung có tính khả thi trong việc mở rộng tiếp cận TDM tại nhiều cơ sở điều trị, với tỷ lệ mẫu đạt yêu cầu cao và thời gian trả kết quả phù hợp cho hỗ trợ quyết định liều. Mô hình cũng cho phép triển khai TDM dựa trên AUC và hỗ trợ cá thể hóa liều vancomycin tại các bệnh viện có điều kiện nguồn lực khác nhau.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3189 Khả năng duy trì điều trị của adalimumab, secukinumab và ustekinumab ở bệnh nhân vảy nến thể mảng: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu theo dõi 52 tuần tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-10-23T08:50:01+00:00 Hoàng Quốc Tuấn A@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Trang A@gmail.com Lưu Ngọc Vi A@gmail.com Lê Minh Châu A@gmail.com Nguyễn Thị Thúy Quỳnh A@gmail.com Nguyễn Hà Anh A@gmail.com Nguyễn Thị Hải Yến A@gmail.com Phùng Thị Lan Hương A@gmail.com Trần Phương Thảo A@gmail.com <p><span class="s14"><span class="bumpedFont17">Mục tiêu:</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17"> So sánh khả năng duy trì điều trị sau 52 tuần của adalimumab, secukinumab và ustekinumab ở bệnh nhân vảy nến thể mảng trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. </span></span><span class="s14"><span class="bumpedFont17">Đối tượng và phương pháp:</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17"> Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, đơn trung tâm trên bệnh nhân vảy nến thể mảng khởi trị bằng adalimumab, secukinumab hoặc ustekinumab từ tháng 01/2021 đến tháng 6/2025 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Khả năng duy trì điều trị được tính bằng phương pháp Kaplan–Meier và so sánh giữa các nhóm bằng phép kiểm Log-rank. </span></span><span class="s14"><span class="bumpedFont17">Kết quả:</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17"> Nghiên cứu gồm 84 bệnh nhân, trong đó 13 bệnh nhân điều trị adalimumab, 45 bệnh nhân điều trị secukinumab và 26 bệnh nhân điều trị ustekinumab. Sau 52 tuần, tỷ lệ duy trì điều trị tích lũy lần lượt là 84,6%, 86,7% và 96,2%. Ustekinumab có tỷ lệ duy trì điều trị cao nhất, tuy nhiên sự khác biệt giữa ba nhóm không có ý nghĩa thống kê</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17"> (Log-rank, p=</span></span><span class="s15"><span class="bumpedFont17">0,397). Nguyên nhân ngừng điều trị chủ yếu là mất hiệu quả điều trị, tiếp theo là gánh nặng chi phí và tác dụng không mong muốn. Kết luận: Ustekinumab có xu hướng đạt khả năng duy trì điều trị sau 52 tuần cao nhất, tiếp theo là secukinumab và adalimumab, mặc dù sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Mất hiệu quả điều trị là nguyên nhân chính dẫn đến ngừng thuốc, nhấn mạnh vai trò của việc tối ưu hóa hiệu quả điều trị nhằm cải thiện khả năng duy trì điều trị bằng thuốc sinh học ở bệnh nhân vảy nến.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3190 Thực trạng sử dụng kháng sinh và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị nhiễm khuẩn gram âm đa kháng tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 2026-10-23T08:50:53+00:00 Đỗ Thành Đạt A@gmail.com Nguyễn Thị Minh Khai A@gmail.com Trần Ngọc Phương Minh A@gmail.com Đặng Nguyễn Đoan Trang A@gmail.com <p><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Mục tiêu:</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">Khảo sát đặc điểm lâm sàng, thực trạng dùng kháng sinh và</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">kết quả điều trị nhiễm khuẩn</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> do </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">vi</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">khuẩn Gram âm đa kháng</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> (</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">MDR-GNB</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">)</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">. </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Đối tượng và phương pháp:</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">Nghiên cứu cắt ngang trên 284 người bệnh </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">≥</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 18 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">Thành phố Hồ Chí Minh</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> được xác định là nhiễm </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">MDR-GNB (kháng </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">≥</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 1 tác nhân trong </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">≥</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">3 nhóm kháng sinh) từ 08/2024 đến</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">12/2024.</span></span> <span class="s16"><span class="bumpedFont17">Kết quả:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> Tuổi trung vị của người bệnh trong mẫu nghiên cứu là 72 (61 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 81). Trong 548 chủng </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">MDR-GNB</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> phân lập, phổ biến nhất là </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Klebsiella pneumoniae</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> (34,9%). </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">Nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn huyết chiếm tỷ lệ cao nhất qua các đợt điều trị. </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">M</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">eropenem đơn trị và &nbsp;meropenem phối hợp levofloxacin là các phác đồ chỉ định nhiều nhất. Tỷ lệ điều trị thành công chung là 77,1%. Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bao gồm: sốc nhiễm khuẩn (OR = 0,300; 95% CI: 0,133 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,681), nhiễm </span></span><span class="s19"><span class="bumpedFont17">Acinetobacter baumannii</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> (OR = 0,459; 95% CI: &nbsp;0,216 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,976), đồng nhiễm tác nhân khác (OR = 0,462; 95% CI: 0,2</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">24 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,956) và các bệnh mắc kèm: u tân sinh (OR = 0,330; 95% CI: 0,149 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">0,731), bệnh huyết học (OR = 0,302; 95% CI:</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,136 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,673), bệnh hô hấp (OR = 0,390; 95% CI: 0,188 </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">-</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17"> 0,806). </span></span><span class="s16"><span class="bumpedFont17">Kết luận:</span></span> <span class="s17"><span class="bumpedFont17">Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn giúp tối ưu hóa phác đồ kháng sinh điều trị MDR-GNB tại bệnh viện</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3192 Phân tích chi phí trực tiếp y tế trong điều trị nội trú của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hoá năm 2023 2026-10-23T08:51:21+00:00 Trần Thị Lan Anh A@gmail.com Trương Thị Hiếu A@gmail.com <p><span class="s17"><span class="bumpedFont17">Mục tiêu:</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> Phân tích cơ cấu chi phí y tế trực tiếp và một số yếu tố ảnh hưởng </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">trong điều trị nội đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hoá năm 2023</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">. </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">Đối tượng và p</span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">hương pháp:</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> Mô tả cắt ngang, phỏng vấn</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> trực tiếp và </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">hồi cứu dữ liệu được trích xuất từ phần mềm quản lý bệnh viện của các đợt điều trị nội trú có chẩn đoán đái tháo </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">đường típ 2. </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">Kết quả:</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> Tổng chi phí trực tiếp cho y tế trung bình một đợt điều trị nội trú năm 2023 của người bệnh là 6.098.937 đồng. Chi phí thuốc và chi phí giường bệnh chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí tiền thuốc (42,</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">2% và 35,37%). Trong đó thuốc kháng sinh chiếm 39,35% và thuốc hạ đường huyết chiếm 11,53%. Các yếu tố liên quan đến chi phí trực tiếp cho y tế bao gồm: thời gian mắc bệnh, lý do nhập viện, phác đồ sử dụng kháng sinh và số lượng bệnh mắc kèm, số ngày điều trị. </span></span><span class="s17"><span class="bumpedFont17">Kết luận:</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">Chi phí thuốc kháng sinh là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi phí tiền thuốc và &nbsp;phác đồ kháng</span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17"> sinh </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">là 1 trong các yếu tố có ảnh hưởng đến chi phí trực tiếp y tế </span></span><span class="s18"><span class="bumpedFont17">trong điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3197 Đặc điểm vi sinh và tính phù hợp của sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng sau phẫu thuật sản phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 2026-10-23T08:51:54+00:00 Thân Thị Hải Hà A@gmail.com Trịnh Vũ Tuệ Minh A@gmail.com Ngô Minh Thắng A@gmail.com Hoàng Thị Phương A@gmail.com Nguyễn Thị Hằng A@gmail.com Hoàng Văn Bình A@gmail.com Nguyễn Văn Khoa A@gmail.com Cao Thị Bích Thảo thaoctb@hup.edu.vn <p>Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm vi sinh và đánh giá tính phù hợp của sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) thành bụng sau phẫu thuật sản phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.<em> Đối</em><em> tượng và phương pháp</em><em>: </em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 110 bệnh nhân NKVM thành bụng điều trị nội trú tại Khoa Sản nhiễm khuẩn từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025. <em>Kết</em><em> quả:</em> Tỷ lệ NKVM nông là 63,6%, sâu là 36,4%. Có 91,8% bệnh nhân được chỉ định nuôi cấy vi khuẩn, trong đó 44,6% có dương tính. <em>Staphylococcus aureus</em> (52,7%; MRSA chiếm 89,7%) và <em>Escherichia coli</em> (34,5%) là hai vi khuẩn được phân lập chủ yếu từ dịch vết mổ và dịch âm đạo. &nbsp;Điều trị kinh nghiệm ban đầu chủ yếu sử dụng phác đồ phối hợp (73,6%), nhưng chỉ 15,5% phác đồ phù hợp hoàn toàn trong khi 46,4% không phù hợp, chủ yếu do trùng lặp phổ tác dụng. Tỷ lệ phác đồ sau khi có kết quả vi sinh phù hợp hoàn toàn là 61,1% và tỷ lệ không phù hợp là 7,4%. Tỷ lệ không phù hợp cao nhất về cách dùng kháng sinh ghi nhận ở liều dùng (70,6%). <em>Kết</em><em> luận:</em> <em>S. aureus</em> và <em>E. coli</em> là hai vi khuẩn được phân lập phổ biến nhất. Sử dụng kháng sinh còn một số điểm chưa phù hợp, đặc biệt trong lựa chọn/phối hợp kháng sinh kinh nghiệm và chế độ sử dụng thuốc. Kết quả cho thấy còn cơ hội tăng cường quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3217 Tỷ lệ sử dụng corticosteroid trưởng thành phổi thai và kết cục sơ sinh ở thai phụ tiền sản giật nhập viện trước 34 tuần 2026-10-23T08:52:46+00:00 Đặng Văn Sinh A@gmail.com Vũ Văn Du A@gmail.com Mai Trọng Hưng A@gmail.com Nguyễn Phương Tú A@gmail.com Đặng Văn Tốt dangvantothmu@gmail.com <p><em>Mục tiêu: </em>Mô tả tỷ lệ sử dụng corticosteroid trưởng thành phổi thai (ACS) theo phân nhóm tuổi thai và so sánh kết cục sơ sinh giữa nhóm có và không tiêm ở thai phụ tiền sản giật (TSG) nhập viện trước 34 tuần. <em>Đối tượng và phương pháp: </em>Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 247 thai phụ TSG nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Sử dụng hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh tuổi thai khi sinh. <em>Kết quả: </em>Tỷ lệ tiêm ACS chung đạt 87,4%; trong số các trường hợp không được tiêm, phần lớn (54,8%) thuộc nhóm 32–33 tuần 6 ngày. Nhóm không tiêm có huyết áp tâm thu cao hơn (trung vị 160 so với 150mmHg) và thời gian kéo dài thai kỳ ngắn hơn (1,0 so với 6,0 ngày; p&lt;0,001). Tỷ lệ Apgar 5 phút &lt; 7 (41,9% so với 16,2%) và tử vong sơ sinh (12,9% so với 1,4%) cao hơn ở nhóm không tiêm. Sau hiệu chỉnh, không sử dụng ACS vẫn liên quan độc lập với tăng nguy cơ tử vong sơ sinh (aOR 9,90; 95% CI 1,58 - 62,13) và Apgar 5 phút thấp (aOR 5,89; 95% CI 1,69 - 20,48). <em>Kết luận: </em>Không sử dụng ACS liên quan độc lập với kết cục sơ sinh xấu hơn, đặc biệt ở thai phụ dưới 28 tuần.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3222 Phân tích kết quả triển khai chương trình kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ 2026-10-23T08:53:13+00:00 Đinh Đức Thành A@gmail.com Lê Na A@gmail.com Vũ Thị Tú A@gmail.com Đỗ Tuấn Anh A@gmail.com Nguyễn Văn Bảy A@gmail.com Phùng Chí Kiên A@gmail.com Hà Bá Tiến A@gmail.com Lê Sỹ Tuấn Lân A@gmail.com Đinh Ngọc Vân A@gmail.com Nguyễn Thị Thu Thuỷ A@gmail.com Nguyễn Thành Hải A@gmail.com Lê Bá Hải hailb@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em> Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích kết quả bước đầu của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trên bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh hình (CTCH) sạch tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu quan sát tiến cứu, theo thiết kế trước–sau trên bệnh nhân phẫu thuật CTCH sạch tại Khoa Ngoại Chấn thương và Y học thể thao, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ. Giai đoạn trước triển khai KSDP từ ngày 01/01/2025 đến 31/03/2025 và giai đoạn sau triển khai KSDP từ ngày 03/10/2025 đến 28/02/2026. Chương trình quản lý KSDP bao gồm xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh, chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân viên y tế và giám sát thực hành lâm sàng với sự tham gia của Dược sĩ. Dữ liệu được thu thập từ bệnh án, theo dõi quá trình sử dụng kháng sinh và phỏng vấn người bệnh trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật. <em>Kết quả:</em> Sau can thiệp, 100% bệnh nhân được sử dụng một liều kháng sinh duy nhất trong vòng 1 giờ trước rạch da và ngừng hoàn toàn kháng sinh sau phẫu thuật. Không ghi nhận trường hợp NKVM trong thời gian nằm viện và trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật ở cả hai nhóm. Thời gian nằm viện trung vị giảm từ 8,0 xuống 3,5 ngày. Chi phí kháng sinh trực tiếp trên mỗi bệnh nhân giảm 5,85 lần và chi phí vật tư y tế tiêu hao liên quan đến việc sử dụng kháng sinh giảm 12 lần. <em>Kết luận:</em> Chương trình quản lý KSDP góp phần chuẩn hóa thực hành sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật CTCH sạch, giảm thời gian sử dụng kháng sinh, rút ngắn thời gian nằm viện và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt mà vẫn duy trì hiệu quả dự phòng NKVM.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3226 Khảo sát một số vấn đề liên quan đến thuốc ở bệnh nhân hội chứng vành cấp tại một bệnh viện đa khoa ở thành phố Hồ Chí Minh 2026-10-23T08:53:43+00:00 Phạm Nguyệt Phú Thảo A@gmail.com Phạm Hồng Thắm hongthamndgd@gmail.com Trần Mạnh Hùng A@gmail.com <p><em>Mục tiêu:</em> Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP), mức độ ảnh hưởng tiềm tàng trên lâm sàng và một số yếu tố liên quan của đơn thuốc xuất viện ở bệnh nhân (BN) mắc hội chứng mạch vành cấp (ACS). <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu (NC) cắt ngang mô tả trên đơn thuốc xuất viện của BN ACS tại một bệnh viện đa khoa Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2025 đến tháng 12/2025. DRP được xác định và phân loại theo PCNE v9.1, đánh giá mức độ ảnh hưởng trên lâm sàng bằng công cụ HAMEC, các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến. <em>Kết quả:</em> Trong 401 đơn thuốc, ghi nhận 461 DRP với 67,1% đơn có ít nhất một DRP. DRP về cách dùng thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (58,6%), chủ yếu do hướng dẫn cách dùng thiếu hoặc chưa phù hợp (51,8%); tiếp theo là DRP về lựa chọn thuốc (29,3%), trong đó phối hợp thuốc chưa phù hợp chiếm 11,9%. Phần lớn DRP được đánh giá có mức độ ảnh hưởng tiềm tàng trên lâm sàng ở mức nhẹ (73,3%). Số lượng bệnh mắc kèm liên quan độc lập với khả năng xuất hiện DRP (OR = 1,296; KTC 95%: 1,104 - 1,521; p=0,001). <em>Kết luận:</em> DRP trên đơn thuốc xuất viện ở BN ACS còn khá phổ biến, chủ yếu liên quan đến hướng dẫn cách dùng và lựa chọn thuốc. Cần tăng cường rà soát đơn thuốc và vai trò của dược sĩ lâm sàng nhằm giảm thiểu DRP có thể phòng tránh.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3228 Tối ưu hóa sử dụng colistin với sự tham gia của dược sĩ lâm sàng tại các đơn vị hồi sức tích cực 2026-10-23T08:54:09+00:00 Nguyễn Thị Vân Anh A@gmail.com Nguyễn Trang Linh A@gmail.com Phạm Thái Dũng A@gmail.com Đặng Văn Ba A@gmail.com Nguyễn Việt Phương A@gmail.com Lương Công Thức A@gmail.com Nguyễn Phương Linh A@gmail.com Nguyễn Hoàng Hải A@gmail.com Đinh Mỹ Trà A@gmail.com Đinh Văn Ngọc A@gmail.com Phùng Chi Kiên A@gmail.com Vũ Dương Anh Minh A@gmail.com Lê Bá Hải hailb@hup.edu.vn <p class="ghichu"><em><span lang="EN-US">Mục tiêu:</span></em><span lang="EN-US"> Đánh giá tác động của việc triển khai chương trình quản lý sử dụng colistin có sự tham gia của dược sĩ lâm sàng đối với thực hành kê đơn và kết quả điều trị các bệnh nhân nặng tại Bệnh viện Quân y 103 (BVQY 103). <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu bán thực nghiệm trước–sau, có so sánh nhóm chứng lịch sử, thực hiện tại các đơn vị hồi sức tích cực tại BVQY 103. Bệnh nhân sử dụng colistin đường tĩnh mạch ở nhóm chứng lịch sử từ 6/2022 đến tháng 6/2023 được so sánh với nhóm can thiệp là các bệnh nhân điều trị trong giai đoạn can thiệp từ tháng 3 đến tháng 7/2025 khi áp dụng rà soát bắt buộc của dược sĩ lâm sàng trước khi sử dụng; phương pháp ghép cặp theo điểm xu hướng được sử dụng để cân bằng đặc điểm ban đầu. Các chỉ số đánh giá gồm tính phù hợp của liều dùng, mức sử dụng <span style="letter-spacing: -.15pt;">kháng sinh, đáp ứng lâm sàng/vi sinh và tổn thương thận cấp. <em>Kết quả:</em> Có 42 bệnh nhân sử dụng colistin trong giai đoạn can thiệp; dược sĩ lâm sàng đưa ra 48 khuyến cáo cho 35 bệnh nhân (83,3%), với tỷ lệ chấp thuận 81,3%. Sau ghép cặp 1:1 (33 cặp), nhóm can thiệp có tỷ lệ tuân thủ phác đồ cao hơn về liều nạp (81,3% so với 61,1%), khoảng cách liều (100% so với 83,3%; p=0,042) và liều duy trì (69,7% so với 42,4%; p=0,047); thời gian điều trị colistin ngắn hơn (8 so với 12 ngày; p=0,038), thời gian dùng kháng sinh chung ngắn hơn (21 so với 29 ngày; p=0,008) và tổng liều colistin tích lũy thấp hơn (66 so với 86 MIU; p=0,035). Tỷ lệ tổn thương thận cấp trong quá trình điều trị colistin ở nhóm can thiệp thấp hơn nhóm chứng (18,2% so với 36,0%), tuy sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p=0,207). <em>Kết luận:</em> Việc triển khai chương trình quản lý sử dụng colistin có sự tham gia bắt buộc của dược sĩ lâm sàng có liên quan với cải thiện tính phù hợp của chế độ liều và giảm một số chỉ số sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân nặng. Kết quả nghiên cứu ủng hộ vai trò của dược sĩ lâm sàng trong quản lý sử dụng colistin tại bệnh viện.</span></span></p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3232 Thực trạng sử dụng amikacin trên bệnh nhân nhi tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 2026-10-23T08:54:38+00:00 Nguyễn Thị Dừa A@gmail.com Vũ Thị Ngọc Mai A@gmail.com Vũ Thu Hà A@gmail.com Nguyễn Trọng Hào A@gmail.com Đinh Trà My A@gmail.com Đinh Ngọc Vân A@gmail.com Nguyễn Thị Huyền Thư A@gmail.com Phan Thị Linh A@gmail.com Trần Thị Thu Thủy A@gmail.com Nguyễn Tứ Sơn A@gmail.com Nguyễn Thành Hải A@gmail.com Lê Bá Hải hailb@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em> Mô tả thực trạng sử dụng amikacin trên bệnh nhân nhi nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả, hồi cứu cắt ngang trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ 3 tháng đến dưới 16 tuổi, sử dụng amikacin đường toàn thân ít nhất 1 ngày trong giai đoạn 01/03/2025-31/05/2025. <em>Kết quả:</em> 230 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung vị 1,4 tuổi; 85,7% được điều trị nhiễm khuẩn hô hấp. Xét nghiệm vi sinh được chỉ định ở 88,3% bệnh nhân, tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 45,3%; dịch tỵ hầu chiếm 85,7% bệnh phẩm. Amikacin được chỉ định kinh nghiệm ở 99,6% trường hợp; 100% dùng với chế độ liều một lần/ngày và phối hợp kháng sinh khác. Liều khởi đầu trung vị là 15,0 mg/kg/ngày; 80,4% điều trị từ 5 - 7 ngày; tỷ lệ hiệu chỉnh liều là 3,0%. Trong nhóm có sốt, 91,9% cắt sốt; 97,0% bệnh nhân có kết quả điều trị khi ra viện là khỏi hoặc đỡ/giảm. Về theo dõi chức năng thận, 20,4% bệnh nhân có creatinin nền và ít nhất 1 giá trị creatinin để đánh giá tổn thương thận cấp, trong nhóm này ghi nhận 1/47 trường hợp tổn thương thận cấp. <em>Kết luận:</em> Amikacin chủ yếu được sử dụng theo kinh nghiệm với chế độ liều tương đối thống nhất. Xét nghiệm vi sinh hỗ trợ điều trị đích và theo dõi chức năng thận còn hạn chế, cho thấy cần tăng cường giám sát hiệu quả và an toàn trong quá trình điều trị.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3247 Đánh giá hiệu quả cải tiến phương thức thanh toán đến tổng thời gian chờ đợi và sự hài lòng của người bệnh tại khu vực cấp phát thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú Bệnh viện E 2026-10-23T08:55:32+00:00 Nguyễn Thị Phương Thúy thuy_ntp@hup.edu.vn Ngô Đức Hiếu A@gmail.com Vũ Thị Thu Hương A@gmail.com Nguyễn Trung Nghĩa A@gmail.com <p><em>Mục tiêu: </em>Đánh giá kết quả cải tiến phương thức thanh toán đến tổng thời gian chờ đợi và sự hài lòng của người bệnh tại khu vực cấp phát thuốc BHYT ngoại trú Bệnh viện E giai đoạn 2024-2025. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Người bệnh lĩnh thuốc BHYT ngoại trú tại Bệnh viện E. Sử dụng phương pháp quan sát bằng bảng kiểm đo lường thời gian chờ đợi của người bệnh từ khi nhận đơn thuốc của bác sĩ đến khi hoàn thành lĩnh thuốc, quy trình cấp phát thuốc và phỏng vấn trực tiếp sự hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện E (400 người bệnh trước cải tiến và 400 người bệnh sau cải tiến). &nbsp;<em>Kết quả</em>: Sau khi cải tiến cách thức thanh toán đối với người bệnh ngoại trú bảo hiểm y tế, tổng thời gian trung bình cả quá trình từ khi người bệnh nhận đơn thuốc của bác sĩ đến khi hoàn thành lĩnh thuốc giảm trung bình từ 12,36 phút xuống còn 9,68 phút sau cải tiến (p&lt;0,001). Điểm đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh đã tăng từ 7,93 điểm trước cải tiến lên 8,36 điểm sau cải tiến (p&lt;0,001). <em>Kết luận:</em> Với biện pháp cải tiến cách thức thanh toán, giúp giảm ùn ứ tại khu vực cấp phát thuốc ngoại trú, người bệnh đã giảm thời gian chờ đợi và tăng sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ cấp phát thuốc ngoại trú so với trước cải tiến.&nbsp;</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3236 Khảo sát quan điểm của cán bộ y tế trong việc số hóa nguồn thông tin thuốc tại Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba 2026-10-23T08:56:06+00:00 Vương Trường Thái A@gmail.com Nguyễn Thị Hương Giang A@gmail.com Chu Đài Trang A@gmail.com Lê Thị Thanh Nhàn A@gmail.com Phạm Bá Thương A@gmail.com Nguyễn Tứ Sơn A@gmail.com Lê Bá Hải A@gmail.com Đặng Việt Dũng A@gmail.com Nguyễn Thành Hải haint@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em> Khảo sát nhu cầu sử dụng và quan điểm của cán bộ y tế (CBYT) đối với giải pháp số hóa nguồn thông tin thuốc thường quy trong thực hành lâm sàng trên nền tảng số TBmediCare-AI tại Trung tâm Y tế (TTYT) khu vực Thanh Ba. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính thông qua phỏng vấn CBYT bằng bộ câu hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 5 mức độ và đo lường số lượt truy cập của người dùng khi sử dụng nền tảng số TBmediCare-AI tại TTYT khu vực Thanh Ba từ tháng 10/2025 đến tháng 03/2026. Cơ sở dữ liệu thông tin thuốc được chuẩn hóa từ các nguồn: Dược thư Quốc gia Việt Nam 2022, Tờ hướng dẫn sử dụng (HDSD) và các phác đồ điều trị của đơn vị. Mức độ tương tác thực tế được theo dõi độc lập qua hệ thống Google Analytics. <em>Kết quả:</em> Trước khi sử dụng nền tảng số TBmediCare-AI, các CBYT tiếp cận nguồn thông tin thuốc chủ yếu từ tài liệu in ấn và Internet phân tán, mất rất nhiều thời gian. Sau khi triển khai giải pháp số hóa các nguồn thông tin thuốc cập nhật, tỷ lệ CBYT sử dụng nền tảng số thường xuyên (hằng ngày hoặc hằng tuần) đạt 78,8%; các nội dung có tần suất tra cứu cao nhất gồm: liều dùng (94,4%), tương tác thuốc (88,2%) và quy trình pha chế, tiêm truyền (82,6%). Có 82,6% CBYT đánh giá hệ thống ở mức thuận tiện/rất thuận tiện; tiêu chí về hỗ trợ bác sĩ kê đơn đạt điểm đánh giá cao (4,58 ± 0,54 điểm). Hệ thống ghi nhận 9.428 lượt truy cập thực tế qua Google Analytics trong suốt 6 tháng theo dõi. Đáng chú ý, qua khảo sát 100% CBYT tham gia khảo sát rất đồng thuận cho rằng việc sử dụng công cụ TBmediCare-AI giúp tăng khả năng phối hợp giữa các nhân viên y tế tại Trung tâm. <em>Kết luận:</em> Giải pháp số hóa cơ sở dữ liệu thông tin thuốc đáp ứng tốt nhu cầu thực hành lâm sàng tại các cơ sở y tế tuyến huyện, giúp chuẩn hóa và cập nhật nguồn tài liệu tham khảo, nâng cao tần suất khai thác thông tin và tăng cường phối hợp chuyên môn giữa các cán bộ y tế.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3240 Đánh giá sự hài lòng của người bệnh với hoạt động cấp phát thuốc bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Đa khoa Phú Xuyên năm 2026 2026-10-23T08:56:35+00:00 Lưu Vân Phương A@gmail.com Nghiêm Thị Nguyệt A@gmail.com Nguyễn Thị Phương Thúy thuy_ntp@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu: </em>Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh đối với hoạt động cấp phát thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Phú Xuyên năm 2026. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn theo bộ câu hỏi với 250 người bệnh đã khám và lĩnh thuốc ngoại trú bảo hiểm y tế, trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2026 tại Bệnh viện Đa khoa Phú Xuyên. <em>Kết quả:</em> Mức độ hài lòng chung của người bệnh với hoạt động cấp phát thuốc ngoại trú tại bệnh viện đạt 4,31 điểm (SD = 0,721), tỷ lệ người bệnh đánh giá mức hài lòng (từ 4 điểm) trở lên là 86,4%. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác định được 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức độ hài lòng của người bệnh đối với hoạt động cấp phát thuốc ngoại trú là (i) Cơ sở vật chất và không gian chờ (β = 0,435); (ii) Năng lực giao tiếp và tư vấn của nhân viên cấp phát (β = 0,280); (iii) Sự thuận tiện về vị trí và chỉ dẫn (β = 0,161). <em>Kết luận:</em> Hoạt động cấp phát thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Phú Xuyên được người bệnh đánh giá đạt mức rất hài lòng, nhân tố Cơ sở vật chất và không gian chờ ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ hài lòng của người bệnh. Bệnh viện cần xem xét triển khai giải pháp để cải thiện tốt hơn cơ sở vật chất và không gian khu vực chờ lĩnh thuốc tại khu vực cấp phát thuốc ngoại trú BHYT của bệnh viện. Bên cạnh đó, năng lực giao tiếp, tư vấn cho nhân viên cấp phát cũng cần được nâng cao, cải thiện.&nbsp;</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3242 Thực trạng kê đơn thuốc điều trị tăng huyết áp và hiệu quả kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hoè Nhai 2026-10-23T08:56:59+00:00 Trần Thị Thu Trang A@gmail.com Nguyễn Thu Thảo A@gmail.com Phan Thị Thanh Bình A@gmail.com Nguyễn Thành Hải A@gmail.com Nguyễn Thị Hồng Hạnh hanhnth@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em> Phân tích đặc điểm kê đơn thuốc điều trị tăng huyết áp (THA) và hiệu quả kiểm soát huyết áp (HA) trên bệnh nhân điều trị ngoại trú. <em>Đối tượng và phương pháp:</em> Nghiên cứu hồi cứu, mô tả dọc theo thời gian trên 335 bệnh nhân được chẩn đoán THA, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai từ ngày 01/01/2025 đến 30/06/2025. Bệnh nhân được theo dõi liên tục trong 6 tháng, tương ứng các thời điểm T1-T6. <em>Kết quả:</em> Bệnh nhân có tuổi trung bình 69,8 ± 9,0 (72% ≥ 66 tuổi); tỷ lệ nữ chiếm 60%. Chủ yếu các bệnh nhân có 1 bệnh đồng mắc (82,5%), phổ biến nhất là bệnh mạch vành (27,2%). Về đặc điểm kê đơn, nhóm ức chế men chuyển (ACEI) được sử dụng nhiều nhất (69,9%), tiếp theo là chẹn kênh canxi (60,3%) và chẹn beta (53,7%). Phác đồ phối hợp chiếm ưu thế, tăng từ 76,7% tại T1 lên 81,8% tại T4; trong đó, viên phối hợp liều cố định được sử dụng phổ biến (trung bình 71,7%). Trong số 120 bệnh nhân có bệnh mắc kèm tại thời điểm T1, có 75 bệnh nhân (62,5%) được kê đơn phù hợp với khuyến cáo về lựa chọn thuốc hạ áp ưu tiên. Về hiệu quả điều trị, ở tất cả các thời điểm, HATT và HATTr trung bình đều dưới 140 và 80 mmHg, và giảm dần trong suốt 6 tháng theo dõi. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt mục tiêu kiểm soát HA (HATT &lt; 130 mmHg và HATTr &lt; 80 mmHg) còn thấp (trung bình 16,1%; cao nhất 19,7% tại T5). Đáng chú ý, nhóm bệnh nhân được điều chỉnh phác đồ có tỷ lệ đạt mục tiêu ít nhất một lần (43,0%) cao hơn so với nhóm không thay đổi phác đồ (38,7%). <em>Kết luận:</em> Phác đồ phối hợp thuốc, đặc biệt là dạng viên phối hợp liều cố định, là lựa chọn chủ yếu trong điều trị THA ngoại trú. Mặc dù huyết áp trung bình dưới mức 140/90 mmHg và được cải thiện theo thời gian, cần tăng cường kiểm soát HA hơn nữa để đạt mục tiêu điều trị ở mức chặt chẽ hơn.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3237 Phân tích chi phí - thỏa dụng của nebivolol so với metoprolol trong điều trị tăng huyết áp nguyên phát tại Việt Nam 2026-10-23T08:57:24+00:00 Nguyễn Duy Nguyên A@gmail.com Ngô Thị Ngọc Nhi A@gmail.com Đỗ Xuân Thắng A@gmail.com Nguyễn Thị Hà nthiha@uhsvnu.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Nghiên cứu đánh giá chi phí - thỏa dụng của nebivolol so với metoprolol trong điều trị tăng huyết áp (THA)&nbsp;nguyên phát tại Việt Nam dưới góc độ cơ quan chi trả, nhằm hỗ trợ quyết định chính sách. <em>Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Mô hình Markov với 8 trạng thái sức khỏe được áp dụng để mô phỏng diễn biến trọn đời của người bệnh THA nguyên phát với chiều dài chu kỳ 1 năm. Tham số đầu vào bao gồm hiệu quả của nebivolol và metoprolol, xác suất chuyển trạng thái, chi phí thuốc và chi phí trạng thái sức khỏe, và điểm thỏa dụng được tổng hợp từ y văn, ưu tiên các nghiên cứu tại Việt Nam. Tỷ lệ chiết khấu 3% áp dụng cho đầu&nbsp;ra hiệu quả và chi phí. Phân tích độ nhạy một chiều và xác suất được áp dụng để đánh giá tính chắc chắn của kết quả nghiên cứu. <em>Kết quả:</em>&nbsp;So với metoprolol, việc điều trị&nbsp;THA&nbsp;bằng nebivolol giúp tăng thêm 0,19&nbsp;QALYs, đồng thời tiết kiệm 6,52&nbsp;triệu đồng. Kết quả cho thấy nebivolol vượt trội hơn so với metoprolol. Sự thay đổi giá trị của các tham số đầu vào không làm thay đổi kết quả phân tích nền. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Nebivolol biệt dược gốc là lựa chọn chiếm ưu thế, giúp tiết kiệm chi phí trọn đời và tăng chất lượng sống so với metoprolol trong quản lý THA nguyên phát tại Việt Nam.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c) https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/3238 Thực trạng tuân thủ hướng dẫn kê đơn dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch giai đoạn sau xuất viện trên bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình lớn tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 2026-10-23T08:57:47+00:00 Nguyễn Hoàng Quỳnh Trang A@gmail.com Nguyễn Đức Long A@gmail.com Nguyễn Thị Dừa A@gmail.com Nguyễn Thị Huyền Thư A@gmail.com Nguyễn Trọng Hào A@gmail.com Phan Thị Linh A@gmail.com Vũ Thu Hà A@gmail.com Ngô Thị Kiều Ngân A@gmail.com Trần Thị Thu Thuỷ A@gmail.com Nguyễn Tứ Sơn A@gmail.com Nguyễn Toàn Thư A@gmail.com Trần Thị Thuỳ Linh A@gmail.com Nguyễn Thị Thu Thuỷ thuyntt@hup.edu.vn <p><em>Mục tiêu:</em>&nbsp;Đánh giá tuân thủ hướng dẫn kê đơn dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình (PTCH) lớn giai đoạn sau xuất viện. <em>Đối tượng và phương pháp:</em>&nbsp;Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên toàn bộ bệnh nhân thực hiện PTCH lớn tại các Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ 08/4/2026 đến 08/6/2026. <em>Kết quả:</em>&nbsp;Trong 94 bệnh nhân PTCH lớn được đưa vào nghiên cứu, 96,8% (91/94) được kê đơn thuốc chống đông khi ra viện; rivaroxaban 10 mg là thuốc chống đông duy nhất được sử dụng. Tỷ lệ tuân thủ về lựa chọn thuốc là 62,6%; nguyên nhân không tuân thủ do lựa chọn DOAC chưa phù hợp ở nhóm gãy xương đùi. Trong nhóm tuân thủ về lựa chọn thuốc, 100% tuân thủ về liều dùng. Thời gian dự phòng tổng cộng là 29,6 ± 5,6 (ngày) và 100% đạt thời gian dự phòng tối thiểu theo khuyến cáo. Tuy nhiên, chỉ có 66,7% bệnh nhân đạt thời gian dự phòng tối ưu theo khuyến cáo. <em>Kết luận:</em>&nbsp;Thực hành kê đơn dự phòng TTHKTM sau xuất viện đã đạt mức tuân thủ cao về chỉ định, chế độ liều và thời gian dự phòng tối thiểu sau khi hướng dẫn được ban hành; tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng trống về lựa chọn thuốc ở nhóm gãy xương đùi và thời gian dự phòng tối ưu, đòi hỏi cần tiếp tục triển khai các biện pháp can thiệp dược lâm sàng.</p> 2026-10-19T00:00:00+00:00 Copyright (c)